RSS

… hồn thu thảo

Biên khảo: Đức Chính

Chương 7

 PHÓNG KHOÁNG MIỀN NAM 

Ai đó nói: “Dân Miền nam ruột để ngoài da” (hàm ý chân chất, không khách sáo; cũng hàm ý thiếu tinh tế, tế nhị). Riêng tôi thì có suy nghĩ hơi là lạ: ruột để ngoài da chính là tinh thần phóng khoáng của dân Miền Nam. Tính cách phóng khoáng đó thể hiện ở tinh thần không ưa những giáo điều xa thực tế ràng buộc, không nhắm mắt làm ngơ nổi khi gặp chuyện trái tai gai mắt, sẵn lòng giúp kẻ hoạn nạn không kể thiệt hơn, … và nhiều điều nữa. Nói khác đi tất cả những gì thuộc quyền thụ hưởng, những tâm tư trong lòng luôn được người Nam Kỳ Lục Tỉnh phơi bày ra cuộc sống.

Thật sự không ai có thể phủ nhận dân Miền Nam sông nước sống rất phóng khoáng, ít chịu gò bó. Trịnh Hoài Đức từng viết trong mục Phong Tục Chí của cuốn Gia Định Thành Thông Chí như sau: “Vùng Gia Định nước Việt ta đất rộng, thực vật phong phú, không lo đói rét, nên dân ít dự trữ, quen thói xa hoa, phong cách kẻ sĩ thì hiên ngang, do người từ bốn phương tụ lại nên mỗi nhà đều có riêng phong tục”. Tuy nhiên cần lưu ý dù tác phẩm này là một tác phẩm quý ghi chép “thời sự” lúc đó ở đất Gia Định nói riêng Miền Nam nói chung, nhưng tác giả nhìn sự việc dưới nhãn quan một nho gia chứ không phải một nhà nghiên cứu xã hội đúng nghĩa. Chính vì vậy có những quan điểm tác giả nêu không hẳn là suy nghĩ của cư dân Lục Tỉnh, ví dụ: “Gia Định ở về phương Nam vị trí Dương Minh người đủ tính trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dẫu phụ nữ cũng thế. Giai nhân mỹ nữ lại nhiều mà hạng giàu sang, cao thọ, khôn khéo cũng xuất phát từ tên tuổi của giới phụ nữ. Họ sùng đạo Phật, tin việc đồng bóng, kính trọng nữ thần, như: bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động (tục gọi phụ nữ sang trọng bằng bà), bà Hỏa Tinh, bà Thủy Long, cô Hồng, cô Hạnh v.v… tức là có ý mọi việc đều theo hào âm của quẻ Ly vậy. Lại thờ thần Táo quân (Ông Táo), ở 2 bên vẽ 2 hình người nam, ở giữa vẽ 1 hình người nữ, cũng tượng trưng của quẻ Ly Hỏa có ý là hai hào dương ở giữa một hào âm làm chủ”. Dĩ nhiên ngày nay chúng ta khó chấp nhận sự lý giải vấn đề theo Kinh Dịch của tác giả như thế, mà cốt lõi là tìm hiểu diễn trình hình thành những tín ngưỡng đó. Khi xem xét vấn đề dưới nhãn quan đó, tất nhiên Trịnh Hoài Đức có những “sai lệch” nhất định khi nói về vùng “sông nước Lục Tỉnh”, nhưng dù sao những ghi chép của ông cũng là những tư liệu quý giá mang tính đương thời.

8.1- Sự hình thành làng xóm ở Miền Nam

Hiện nay một số tác giả cho rằng sự hình thành làng ở Miền Nam bắt đầu từ việc các chúa Nguyễn cho binh lính đi khai khẩn trước, rồi sau đó di dân đến làm ăn[1]. Điều này chỉ đúng với vùng đất từ Ninh Thuận (nơi đóng đô cuối cùng của Chiêm Thành) trở ra Bắc vì cuộc Nam Tiến vào vùng đất Chiêm Thành thông qua chiến tranh để giành đất;

còn vùng Lục Tỉnh[2] không như vậy, đó là vùng đất người Miên “chê” (dân số Chân Lạp ít nên lựa chọn vùng đất cao hơn gọi là Lục Chân Lạp để làm ăn) vì ngập nước ứ phèn nên dân Việt tiến vào làm ăn không gặp sự chống đối dù các chúa Nguyễn chưa xác lập vương quyền. Chúng ta có thể dựa vào địa danh để xác tín điều này: khi tiếp nhận một vùng đất vào vương quốc của mình, các chúa Nguyễn thường ban cho một mỹ danh để lập cơ sở hành chánh làng xã. Chính vì vậy khi tiếp nhận đất dâng hay chiếm được đất mới của Chiêm Thành các chúa Nguyễn liền lập phủ huyện với tên rất đẹp kèm theo một ý nghĩa chính trị nào đó, và vì vậy từ Bình Thuận trở ra chúng ta thấy đa số các địa danh đẹp đẽ theo nghĩa Hán Việt và thủ tiêu tên đất theo tiếng Chăm (trừ một vài địa danh còn âm hưởng tiếng Chăm, nhưng rất ít)[3]. Ngược lại từ Bình Thuận trở vào địa danh mang âm hưởng tiếng Khờ-me rất nhiều, nguyên nhân là người Việt dùng ngay tên gọi sẳn có của người Miên để dùng. Chẳng hạn như Sài Gòn là địa danh tiếng Khờ-me (Prey Nokor có nghĩa là “rừng cây gòn”) mà đến nay vẫn còn tranh cãi về xuất xứ, đến khi Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh đi vào mới đặt tên mới là phủ Tân Bình (nghĩa là “mới bình định”) theo truyền thống vốn có của triều đình phong kiến. Còn những vùng đất ban đầu không là trọng điểm hay thủ phủ lại quá nhiều nên không kịp đặt tên, do vậy đến ngày nay vẫn còn sót lại những địa danh có gốc Khờ-me như Mỹ Tho (gốc là Srock Myxo có nghĩa là “xứ nàng trắng”, Ngô Đình Diệm ban cho mỹ danh Định Tường rồi quay về tên cũ Mỹ Tho), Long Hồ (tưởng là tên Hán Việt nhưng thực ra từ chữ Longhor, sau đổi thành Vĩnh Long), Bến Tre (Srock Treay có nghĩa là “xứ cá”), Sa Đéc (Phsar Dek, có nghĩa là “chợ sắt”), Sóc Trăng (Srock Khléang có nghĩa là “xứ kho bạc”, có lúc Ngô Đình Diệm đổi thành Ba Xuyên), Cần Thơ (Prek Rusey, có nghĩa là “sông tre”, có lúc Ngô Đình Diệm đổi thành Phong Dinh), Cà Mau (Tuk-khmau có nghĩa là “nước đen”, có lúc Ngô Đình Diệm đổi thành An Xuyên), Bạc Liêu (Po-Loeuh có nghĩa là “cây da cao”), Vĩnh Bình (tưởng là tên Hán Việt nhưng thực ra từ chữ Preatrapeang, có nghĩa là “hồ thánh”), Châu Đốc (Mắt cruk có nghĩa là “xứ miệng heo”), ….

Điều này chứng tỏ dân Việt di dân tự phát vào Lục tỉnh trước rồi thể chế chính trị theo sau. Một câu chuyện dẫn chứng là năm 1618 Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên gã công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey-Chetta II và được phong làm hoàng hậu Sam-đát[4]. Theo chân và có nhiều di dân người Việt qua đất Khờ-me sinh sống ở vùng đồng bằng quanh kinh đô Ou-dong. Sự có mặt của một cộng đồng người Việt như thế được giáo sĩ Chevreuil[5] ghi nhận vào năm 1665 có “hai làng người Việt với độ 500 dân nhưng chỉ có 40 đến 50 người theo đạo Thiên Chúa mà thôi”. Nói khác đi là người Việt di dân đã hình thành làng riêng biệt và làng này tất nhiên chưa nằm trong quyền hành chánh của Chúa Nguyễn. Dĩ nhiên xa xa hơn nữa hẳn còn có những làng Việt khác, và nhất là vùng sau này gọi là Lục Tỉnh[6] còn nhiều hơn.

Ngay cả khi triều Nguyễn tái thống nhất đất nước và xác lập chủ quyền ở Lục Tỉnh, truyền thống này vẫn còn tồn tại qua sự dẫn lại ghi chép của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định Thành Thông Chí của Huỳnh Lứa[7]: “dân ở tỉnh này có thể tự do đến khẩn đất ruộng ở tỉnh khác, ai muốn đến ở đâu, khai khẩn ruộng gò, ruộng thấp ở nơi nào, lập làng, lập ấp ở đâu tùy ý. Khi đã lựa chọn đất đai rồi thì chỉ cần khai báo với chính quyền là được trở thành nghiệp chủ của đất ấy, mà chính quyền cũng không đo đạc, không cần biết đất ấy tốt xấu thế nào; người nghiệp chủ tùy theo đất mình chiếm rộng hẹp mà nộp thuế nhiều hay ít, và nộp thuế bằng thóc, dùng hộc già hay non cũng được”. Mãi đến đời Minh mạng mới có chính sách “Đồn Điền” để quân đội tổ chức khai khẩn[8]. Điều này lại lý giải vì sao nhiều địa danh ở Lục Tỉnh có tên rất nôm na, xa lạ với phong cách đặt địa danh ở Miền Trung và Bắc. Những địa danh đó do lưu dân tự đặt chứ không phải do ông quan hay chữ ban cho: Hóc Môn, Vàm Nao, Cái Bè, Gò Quao (gò có nhiều cây quao), Gò Vấp (gò có nhiều cây vấp), Xẻo Gừa (khoảnh đất nhỏ có nhiều cây gừa), Ngã Tư Bảy Hiền (ông thứ 7 tên Hiền), Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Chú Ía, Xóm Củi, Hàng Sanh, … Sau này chính quyền mới đặt lại một số cho văn hoa hơn, nhưng vẫn còn không ít tên “quê mùa” như lúc ban đầu.

Như thế dù có những khuyến khích di dân của các chúa Nguyễn nhưng phần lớn đất đai buổi ban đầu chỉ mới là “đất mượn” của Chân Lạp rồi sau đó mới sáp nhập. Chính vì thế sự di dân ở Miền Nam mang tính chất cá thể hơn là có tổ chức chính trị lãnh đạo. Có thể khẳng định điều này qua sự kiện khi dân Việt đã làm ăn rất lâu đời ở vùng sông nước Miền Nam, đến năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu mới sai Nguyễn Hữu Cảnh làm thống suất kinh lược vào xác lập phủ huyện. Nhưng công việc đó chỉ mới hình thành ở một phần lãnh thổ có cư dân Việt sinh sống đông đúc: “lấy đất Đông phố lập làm Phủ Gia Định, chia vạch ranh giới, lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, lập Dinh Trấn Biên, lấy Sài Gòn làm huyện Tân Bình, lập Dinh Phiên Trấn” tức Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Trong khi đó dân Việt đã có mặt ở vùng Hà Tiên, Châu Đốc với số lượng đủ để có một đời sống xã hội tự phát tự lập. Minh chứng thứ hai là đến năm 1679 khi Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch phản Thanh kéo chiến thuyền đến quy phục, chúa Nguyễn phân phái khai khẩn đất Biên Hòa (Trần Thượng Xuyên) và Mỹ Tho (Dương Ngạn Địch), khi đó đất Mỹ Tho vẫn còn là đất của Chân Lạp nên chúa Nguyễn Phúc Chu phải sai sứ thần qua gặp vua Nặc Ông Thu xin cho mượn đất trú nhờ.

Trước hai di thần nhà Minh này dân Việt đã tự phát đi vào vùng đất này sinh sống dù chưa có một cơ sở hành chánh của Đàng Trong nào cả, tất nhiên sự di dân này là tự phát khác hẳn với việc hình thành làng kiểu Miền Bắc. Bởi lẽ nếu vùng Mỹ Tho (tức trấn Định Tường) và vùng xa hơn về phía Tây chưa có tản mác cư dân Việt cư trú sẵn từ trước thì sự định cư của Dương Ngạn Địch khó khăn rất lớn bởi sự khác biệt văn hóa với Chân

Lạp[9]. Nhờ người Việt có nền văn hóa vốn khá gần nên Dương Ngạn Địch đã quy tụ lại lập làng xóm làm ăn và giải quyết vấn đề xã hội rất lớn là “hình thành các gia đình”. Sự di dân bằng thuyền hẳn nhiên phần lớn là đàn ông (quân lính), nên vấn đề lập gia đình với người bản xứ là điều tất nhiên nhưng không có các cộng đồng nhỏ lẻ người Việt thì quả là vấn nạn. Vấn nạn này có thể hình dung: người Minh Hương khá bảo thủ về ý thức hệ (đó là một trong những nguyên nhân họ chủ trương Phản Thanh Phục Minh), và thứ đến là phong thổ rất khác biệt đòi hỏi có sự truyền đạt để kế thừa kinh nghiệm. Buổi đầu cả hai vấn nạn này khó lòng trông chờ ở ở người Miên vì trở ngại về ngôn ngữ (người Việt ít nhiều có thể bút vấn bằng Hán tự) và xung đột tập quán văn hóa. Cũng vì thế mà dòng di dân này nhanh chóng hòa nhập và nhận cội nguồn Việt Nam rất sớm, nhiều danh nhân Minh Hương như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, …. nhận triều Nguyễn là vua để họ trung thành.

Thế thì người Việt trước đó hình thành làng thế nào ở vùng sông nước Miền Nam. Không có tài liệu nào ghi chép cụ thể, nhưng qua các truyện ký của các nhà văn Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, … có thể hình dung ban đầu có một gia đình nào đó đến vùng đất hoang khai khẩn đất đai, sau đó nhiều gia đình khác tụ lại. Sơ khai các gia đình tụ lại còn cách nhau khá xa, dần dà đất đai hẹp dần do nhiều gia đình khác tụ lại thêm nên thành làng xóm. Chính vì thế mà ngay đến đầu thế kỷ 20 các khảo cứu của người Pháp còn nhận xét thấy làng quê Miền Nam lưa thưa rải rác xa xa một căn nhà, khác với miền Bắc làng tập trung trong khuôn viên một lũy tre. Từ đó chúng ta mới hiểu vì sao khái niệm chùa làng của miền Bắc rất mờ nhạt ở Miền Nam (chùa làng theo ý nghĩa Miền Bắc chỉ thấy ở các phum sóc của người Khmer); sự hình thành làng ở Miền Nam không phải do một người đứng ra chủ động rồi xin phép triều đình lập làng mới hay từ một làng lớn tách ra làm nhiều làng, mà là sự quần tụ lần hồi của vùng sông nước đất rộng hoang vu dân cư thưa thớt. Thường những nơi tụ làng như thế là những đất giồng, những giồng lớn dần dà hình thành nơi thị tứ vì là nơi chạy lũ vào mùa nước lớn, chẳng hạn Châu Đốc với câu ca “Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc, …[10]. Làng trên giồng hình thành như thế, nên giồng là khoảnh đất thân thương trong lòng người đi khai hoang lập ấp Đất Phương Nam, xuất hiện rất nhiều trong thơ ca và văn học.

langsong nuocHình thái hình thành làng thứ 2 mang dấu ấn của vùng sông nước: làng hình thành ở những nơi ghe xuống phải dừng lại chờ con nước. Cụ Nguyễn Hiến Lê có nhận định về việc này: “Đi trên kinh rạch Nam Việt, gặp chỗ giáp nước thì luôn luôn ta thấy một cái chợ hoặc lớn hoặc nhỏ, ít nhất cũng là một xóm có vài quán bán hàng, vì chỗ giáp nước là chỗ đổi con nước; mười ghe thì chín ghe đậu lại đợi con nước sau. Trong khi nghỉ, người ta lên bờ mua thức ăn, đồ dùng, uống trà, cà phê, thế là tự nhiên nổi lên cái chợ. Tóm lại, chỗ giáp nước cũng tựa như một nhà ga có chỗ tránh trên đường thủy vậy. Chợ Thủ Thừa này vừa là chỗ giáp nước, vừa nằm trên con đường từ Sài Gòn về miền Tây do rạch Bến Lức, Kinh Mới, rạch Thủ Thừa, kinh Bà Bèo, kinh Tổng đốc Lộc, kinh Tháp Mười (cũng kêu là kinh Phong Mỹ) và Tiền Giang và Hậu Giang.[11]. Mỹ Tho Đại Phố[12] bên tả ngạn sông Mỹ Tho được hình thành năm 1679 và sau đó phát triển lớn lên trở thành thủ phủ một tỉnh cũng theo nguyên lý này[13]. Như thế hình thành một ngôi làng và phát triển lên thành thị trấn, có thể thành thủ phủ của một tỉnh. Dĩ nhiên những khúc sông như vậy thường có địa thế không chịu nhiều ảnh hưởng của con lũ hàng năm. Hiện tượng này hẳn xuất hiện kể từ khi có di dân Việt sống lênh đênh trên ghe xuồng ở vùng sông nước Đất Phương Nam. Nhu cầu trao đổi sản vật tất yếu nảy sinh và những di dân này còn mang theo một phong cách khuyến khích mua bán của các Chúa Nguyễn như Lê Quý Đôn từng nói về đất Quảng Nam trong cuốn Phủ biên tạp lục. Dĩ nhiên sau đó hiện tượng này còn được củng cố bởi lớp người Minh Hương giỏi nghề thương mại được chúa

Nguyễn cho trấn nhậm vùng đất mới này. Nói khác đi hình thái lập làng ở bến nước có trước khi người Pháp đặt nền cai trị ở Lục Tỉnh[14].

Đất hoang còn nhiều, dân cư thưa thớt[15] là hai yếu tố khiến người dân Lục Tỉnh khi lập gia đình xong đều kiếm một miếng đất “cắm dùi” để “ra riêng”. Đó cũng là lý do chính sách Quân Điền thời Minh Mạng thành công vang dội ở Bình Định (do xứ này đất ít và nhiều cường hào cố cựu chiếm phần lớn đất đai), nhưng không nhiều tác dụng khi Trương Đăng Quế kinh lược đất đai Miền Nam như nói ở sau. Tập quán này cũng dần dà khiến khái niệm cộng hữu gia tộc (copropriété familliale) nhạt dần rồi biến mất. Điều này càng cho thấy sự mở đất không phải là có tổ chức mà do một nhân vật dân dã bình thường cắm trụ rồi người khác kéo nhau về đông thêm[16]. Đất công của làng xã, chùa chiềng cũng mất theo cùng với những lệ làng liên quan với nó. Vì thế phong cách làng Miền Nam cũng khác biệt nhiều so với Miền Bắc: nếu làng Miền Bắc thường có quan hệ dòng họ một vài dòng tộc thì làng Miền Nam là nơi tập hợp nhiều dòng họ khác nhau. Hình thái cũng dị biệt: lũy tre và cái cổng làng không còn ở làng Lục Tỉnh, thậm chí cây đa đầu làng cũng khó có nhiều ở vung nửa năm ngập úng. Chúng ta lưu ý thời khai hoang lập ấp miền sông nước Cửu Long có hai mối đe dọa ác thú: cọp và sấu. Thế nhưng với làng miền Trung có dựng những hàng rào tre gai để ngăn chặn cọp[17] thì làng miền Nam lại không có. Di dân tự do miền Trung vào không thiếu hẳn kinh nghiệm đó cũng mang theo, nhưng do lối hình thành làng sông nước buổi sơ khai quá tản mác nên không thể áp dụng. Cũng chính sự tản mác này cũng là lý do làng sông nước Cửu Long không còn lũy tre bao bọc và chiếc cổng làng đầy tính tâm linh. Ngặt một nỗi khi nói đến làng thường hay nghĩ đến đến lũy tre và chiếc cổng làng, vô tình làm hiểu sai lệch làng kiểu sông nước Lục Tỉnh. Nhiều tham luận của một số giáo sư tiến sĩ vẫn còn mơ hồ về điều này, khiến người đọc đánh đồng làng Miền Nam theo hình thái Miền Bắc. Dĩ nhiên có một số nhà nghiên cứu có đi thực tiễn (chứ không phải lục sách do các tác giả người Miền Bắc viết) như Trần Ngọc Thêm sẽ đồng quan điểm: “Làng Nam Bộ không có lũy tre dày dặc bao quanh với cái cổng làng sớm mở tối đóng như làng Bắc Bộ[18], nhưng ông lại không đào sâu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng và chỉ dành cho “làng xã Nam Bộ” một vài trang trong cuốn sách dày hơn 600 trang. Và hẳn nhiên làng miền Nam Kỳ Lục Tỉnh khác nhiều so với mô tả của Toan Ánh trong cuốn “Làng Xóm Việt Nam” (bộ Nếp Cũ, 11

cuốn)[19], nhưng các “học giả” vẫn cứ vin vào cụ Toan Ánh để hiểu toàn bộ làng ở Việt Nam đều là vậy: cây đa, cổng làng, lũy tre, … Có thể nói “mô hình làng” miệt Lục Tỉnh Nam Kỳ hình như không có trong tâm trí nhiều “học giả” thì phải?[20]. Ngay cả Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị do cụ Trần Trọng Kim chủ biên[21] cũng mô tả theo cảnh làng Miền Bắc “Làng tôi ở gần tỉnh. Xung quanh làng có lũy tre, đứng ngoài không trông thấy nhà cửa. Đầu làng, cuối làng có cổng xây bằng gạch. …” (Bài số 9: Làng tôi). Cổng làng ở Miền Nam thi thoảng cũng có, nhưng không nhiều. Tôi nhớ ngày xưa tôi bị thầy giáo phạt khi cãi sống cãi chết “làng em không có cổng làng và cây đa” như bài thơ đang học. Bởi đó là hình ảnh ngôi làng ba má tôi dẫn về thăm và bây giờ cãi các điều những vị giáo sư tiến sĩ đã viết, đã hội thảo và in thành sách.

Sự hình thành làng có tổ chức ở miệt Lục Tỉnh cũng có, nhưng vào buổi đầu thời chúa Nguyễn gần như không đáng kể[22], nhưng lại có hai trường hợp mang dấu ấn lịch sử rất quan trọng: khai khẩn đất Biên Hòa (Trần Thượng Xuyên) và Mỹ Tho (Dương Ngạn Địch). Chỉ khi triều đình nhà Nguyễn lập quốc mới có chính sách đồn điền áp dụng trên toàn cõi Việt Nam: đồn điền quân sựđồn điền dân sự. Qua đến đời Minh mạng chỉ còn một loại hình “đồn điền quân sự”, vừa làm chức năng trấn thủ vừa cày cấy sinh nhai và được ban cho một địa danh văn hoa. Do gắn chặt với cơ chế phòng thủ và cai trị, sự di dân này không có nhiều ảnh hưởng trong việc hình thành làng ở Lục Tỉnh[23]; thêm nữa lúa gạo làm ra nộp kho và hàng tháng được phát lại dưới hình thức lương bổng. Ngoài ra còn phải lo việc binh biền vùng biên giới nên lính đồn điền bỏ trốn rất nhiều, chính sách này dần dần thất bại. Chính các lính đồn điền này quay trở lại thành lưu dân đi lập làng theo hình thức tự phát đặc thù của Miền Nam vì đã đào ngũ không thể ra mặt được. Loại hình thành lập làng có tổ chức thứ hai là một hoạt động tôn giáo, không có sự tham dự của chính quyền. Vào năm 1851 Đức Phật thầy Tây An cử 4 đoàn đi mở trại ruộng lấy ruộng cho tín đồ sinh sống[24]. Các trại ruộng này không xin phép chính quyền nên bị coi là làng lậu, về sau là cơ sở tôn giáo đồng thời là địa bàn kháng chiến chống Pháp. Mãi đến khi chính quyền Pháp đã ổn định được tình hình, việc hình thành làng mới một cách có tổ chức xuất hiện loại hình thứ 3: các chủ đồn điền người Pháp mộ phu cả ba miền khai khẩn trồng cao su, từ đó theo thời gian dân phu tự hình thành làng.

Làng xã ra đời như thế nên xuất hiện hai hình thức: làng chính thức và làng lậu. Làng chính thức là làng đã đăng ký với chính quyền sở tại và hàng năm có đóng thuế, còn làng lậu thì chính quyền không biết để cai quản. Ruộng cũng thế: ruộng khai điền bạ và ruộng man khai. Hiện tượng này xảy ra không ít, ngay trong chính sử cũng có đoạn nhắc đến. Năm 1836, vua Minh mạng ra dụ lập địa bộ xứ Nam Kỳ sai binh bộ thượng thư Trương Đăng Quế và lại bộ thượng thư Nguyễn Kim Bảng làm kinh lược sứ. Đến tháng 4 Trương Đăng Quế tâu sớ về kinh: “Có nơi ruộng chỉ khai một thửa, tô thuế nguyên trưng không quá ba bốn hộc, nay đã chia làm sáu bảy thửa bán cho người khác, mà những người mua ấy đều phải nộp thóc gấp bội cho chủ nguyên trưng thu riêng, lại còn nhiều nỗi sách nhiễu không kể xiết![25]. Lại còn tâu thêm về mốc ranh giới làng xã “Duy từ quan lại ở tỉnh đến các tổng lý, không một ai am tường về địa phận đông tây, về phân số mẫu sào, và những cách nêu ruộng, ghi nhận, tính đo […] có chỗ có cày cấy thực mà không có sổ, có chỗ ở xã khác mà ghi lẫn vào bản xã […]”. Cho thấy ở Miền Nam Lục Tỉnh đến thời Minh Mạng vẫn còn khai ruộng lập điền tự phát và tính cách làng theo kiểu Miền Bắc vẫn chưa hình thành.

Đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn làng lậu làm cảm hứng cho nhà văn Sơn Nam viết truyện ngắn “Chuyện Rừng Tràm”. Chuyện kể rằng một thầy đội kiểm lâm đi thăm rừng tình cờ phát hiện một chòm nhà dân cư không có tên trong sở địa chính; làng đó có: “Hàng trăm mái nhà cất san sát thành một xóm lớn, trong bản đồ tự hồi nào đến giờ chưa có ghi vào. Chừng điều tra lại thì ô hô! Ðó là một số người lén lút vào đây cất nhà phá rừng để bán củi lậu thuế đã ba năm qua mà nhà cầm quyền không bao giờ hay biết. Sau khi thương lượng, họ đồng ý chịu cho thầy một số tiền ‘trà nước’ hai ngàn đồng, hồi xưa đó là số vốn khá to. Nghe nói nhờ đó mà thầy đội sắm được chiếc đò máy và đến năm sau, thầy đâm đơn lên quan trên để xin từ chức, dưỡng già”. Kiểu làng lậu đó cũng được Nguyễn Hiến Lê thuật lại trong cuốn “Bảy Ngày Ở Đồng Tháp Mười” qua một sự kiện khiến độc giả cười ra nước mắt: “Tám chín năm trước, hai bên bờ kinh Cát Bích này còn vắng hoe, mới có người ở từ năm sáu năm nay. Hồi đó đất chung quanh đều hoang, chưa có chủ. Một vài dân nghèo tới đây khai phá thử những khoảng nho nhỏ, vài chục công một. Đất tốt ít phèn, lại gặp những năm nước không lớn quá, mặc dù chuột còn phá mà hết mùa, mỗi gia đình còn dư được ba bốn trăm giạ. Năm sau, họ khai phá nhiều gấp đôi và những người phương khác cũng dần dần tụ lại. Chỉ trong bốn năm thành đất thuộc. Nhà nào cũng thịnh vượng: người đóng ghe, kẻ tậu trâu, người mua đồng cho vợ đeo, người xây lẫm để cất lúa.

Rồi bỗng một hôm, có chiếc ca nô chạy xình xịch tới đậu trước nhà họ. Một ông chủ điền, mặt phương phi, hồng hào, tai dài, mũi lớn, chít khăn đóng, bận quần hàng, và một tên vác súng theo sau, bước lên bờ, đi coi khắp mặt tiền, mặt hậu khu đất, như tìm chỗ để bắn chim. Nông dân ở đây ngạc nhiên, song thấy khách lạ cũng tử tế, niềm nở hỏi han về mùa màng, nên không nghi ngờ gì, mời khách vào nhà nghỉ chân, bảo vợ con ra chào, và khi khách xuống ca nô thì cả nhà đưa ra bến, xá dài rồi mới trở vào nhà. Một hai tháng sau, họ quên hẳn chuyện đó rồi thì có giấy ở tỉnh gởi xuống buộc họ tội chiếm đất của ông X hay ông Y và bắt họ phải dời đi nơi khác liền.

Họ mới ngã ngửa. Đầu óc chất phác của họ cứ hiểu rằng đất vô chủ thì ai tới phá cũng được và đã có công khai phá thì tất về mình. Nhưng luật lệ thì không hiểu một cách ngây thơ như họ, chỉ biết người nào có xin phép chính phủ khai khẩn thì mới làm chủ đất”. Thông thường những người nông dân đi mở ruộng này trở thành tá điền cho người “chủ đất” đã được cấp phép khai khẩn.

Vấn đề có nguồn gốc sâu xa của nó. Các địa bộ của Triều Nguyễn do vua Minh Mạng sai làm có nhiều thiếu sót và bất cập về quyền sở hữu (chỉ kiểm kê không đầy đủ và không chế định luật lệ về ruộng đất rõ ràng) nên sinh ra nhiều tranh chấp, mặt khác nguồn thu thuế[26] của chính quyền Pháp vì thế cũng gặp trở ngại. Nhu cầu đó thúc đẩy Nghị Định ngày 6 tháng 3 năm 1891[27] gồm 7 điều ra đời để kiểm kê và xác lập lại quyền sở hữu, với mấy điều khoản đáng chú ý:

Điều 3: Từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10 năm 1891, những ai có yêu cầu xin khai khẩn, hoặc là đối chiếu theo Địa Bộ, hoặc là đã mặc định theo đăng bạ, hoặc là người chỉ đang nắm quyền sở hữu thực tế, phải kê khai cho quan chức quản trị để ghi vào địa bạ mới;[28]

Điều 4: Khi kê khai nói trên gặp sự phản đối, và khi quan chức quản trị không tìm được sự đồng thuận của các bên, các kê khai đó sẽ đưa ra tòa giải quyết tranh chấp.

Một khi tòa ra phán quyết giao quyền sở hữu rồi, lục sự sẽ sao gửi đến quan chức quản trị hồ sơ sở hữu.[29]

Điều 6: Kể từ khi hoàn tất đăng bộ sở hữu, không có việc giao quyền sở hữu nào khác được thực hiện bởi quan chức quản trị và y cứ vào bằng khoán chính thức mà quan chức đó đang lưu giữ bản sao lục.

Sau đó quan chức quản trị tư cho các làng biết sự giao quyền sở hữu đó và chúng được đăng bộ vào sở hữu của làng, cứ theo đó mà thi hành.[30]

Chính sách đó dù là một tiến bộ trong việc quản lý đất đai nhưng vô tình cho ra đời một loạt đại điền chủ ngang xương và giàu nứt đố đổ vách do hạn chế về dân trí và sự thông tin pháp luật. Đồng thời xô đẩy chế độ làng xã theo một hướng mới: quyền hạn tối thượng của địa chủ được xác lập. “Hồn thu thảo” của làng xã miền sông nước cũng chuyển biến khác đi. Đặc thù này phản ảnh rõ nét trong tiểu thuyết: tiểu thuyết làng miền Bắc phản ảnh chế độ hương thân “cường hào ác bá” trong Nam gọi là ông hội đồng) vắt nặn dân đen một cách đê tiện[31], thì tiểu thuyết miền Nam ta thán cảnh địa chủ thu tô xiết nợ[32]. Sự bất công đó có lẽ là chất men để truyện Tàu có đất sinh sôi và từ đó ảnh hưởng ngược lại tâm thức dân Lục Tỉnh. Càng bế tắc trước nạn địa chủ, ước mơ giang hồ hành hiệp càng nổi lên, tạo một nét riêng cho văn hóa Miền Nam.

Vấn đề ruộng đất đó không phải là những vấn đề lẻ tẻ được tiểu thuyết hóa, mà trở thành sự kiện làm chấn động xã hội qua vụ ám điển hình “Đồng Nọc Nạn[33] gây thiệt mạng 5 người. Câu chuyện bắt đầu từ năm 1900 Hương chánh Luông khai phá vùng đất này được 73 Ha nhưng không vội khai báo để tránh thuế khi đất chưa thu hoạch tốt. Đến năm 1910 ông mới làm đơn xin khẩn 20 ha đất và qua năm 1912 xin nốt cho trọn 73 ha; chính quyền cũng cấp bằng khoán tạm cho ông. Quyền sở hữu đó từng được tòa án công nhận qua vụ kiện đòi chia đất của Tăng Văn Đ. Năm 1916, tòa ra phán quyết ông Luông thắng kiện nhưng yêu cầu chia cho Đ. 5 ha để sinh sống. sau khi ông Luông qua đời, quyền thừa kế trao lại cho con trai trưởng là Biện Toại. Thế nhưng đến năm 1917 sóng gió nổi lên với một thế lực đen của Bang Tắc (người đứng đầu một hội kín) với sự thông đồng của các quan chức sở tại. Bang Tắc kiện đòi 73 ha đất  mà Biện Toại đang canh tác. Hai bê đầu đơn bốn lần lên chủ tỉnh Bạc Liêu và bốn lần lên Thống đốc Nam Kỳ, lên cả Toàn quyền Đông Dương. Vụ việc dàng dai, năm 1919 Bang Tắc cho đàn em đốt lều và giết trâu bò của Biện Toại, Biện Toại nhẫn nhịn chỉ báo chính quyền can thiệp. Nhân đó quan phủ Ngô Văn H. của Giá Rai ra quyết định chia đôi đất cho hai bên và tư lên trên. Ngày 13 tháng 4 năm 1926, Thống đốc Nam Kỳ ký Nghị định bán sở đất 50 ha trên phần đất của Biện Toại với giá 5.000 đồng cho Bang Tắc, tức không công nhận phần đất mà gia đình Biện Toại đã hai đời khai thác và giao cho Bang Tắc. Bị dồn vài đường cùng, gia đình Biện Toại liều mạng chống đối, Bang Tắc thấy vậy bán lại cho bà Hà Thị Tr. là người nhà của quan phủ H. Bà Tr. Vẫn để gia đình Biện Toại canh tác nhưng với tư cách tá điền và nộp địa tô. Không dừng lại ở đó, ngày 6 tháng 12 năm 1927, bà Tr. xin được án lệnh của tòa, cho phép tịch thu tất cả lúa của anh em Biện Toại; rồi ngày 13 tháng 2 năm 1928, lính mã tà gặp anh em Biện Toại để thực thi lệnh tịch thu lúa, anh em Biện Toại kháng cự. Sáng 16 tháng 2 năm 1928, khoảng 7giờ, hai viên cò Pháp là Tournier và Bouzou cùng bốn lính mã tà từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay viên chức làng tịch thu lúa của gia đình Biện Toại và bạo động xảy ra. Bouzou rút súng bắn trọng thương bốn người phía Biện Toại; hết đạn, Bouzou lại lấy súng của Tournier bắn tiếp, làm nhiều người thương vong: Mười Chức và vợ đang mang thai (bà Nghĩa), một người anh tên Nhẫn, đều chết, Nhịn, Liễu (hai em Mười Chức) bị thương nặng và Nhịn chết tại bệnh viện. Về phía nhà cầm quyền, Tournier thiệt mạng ngày 17 tháng 2 tại bệnh viện Bạc Liêu.

Sự việc gây chấn động, báo chí vào cuộc điều tra tại chỗ với nhiều đối tượng khác nhau. Nhiều vấn đề được khai mở và đồng loạt báo chí Sài Gòn lên tiếng bênh vực gia đình Biện Toại[34]. Các luật sư Pháp như ông Tricon và Zévaco lên tiếng bảo vệ gia đình Biện Toại vạch trần tệ nạn quan quyền trong xã hội. Kết thúc phiên tòa Tòa Đại hình Cần Thơ tuyên Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út Toại) và Tia (con trai Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, sáu tháng tù (đã bị tạm giam đủ sáu tháng nên sau phiên tòa tha ra ngay). Miều (chồng Liễu), hai năm tù vì có tiền án ăn trộm. Tri phủ H. bị cách chức sau đó.

Gia đình Biện Toại lại một lần nữa chứng minh tính cách Miền Nam: sẵn sàng nhẫn nhịn để sống yên bình, nhưng đến đường cùng thì hành động quyết liệt. Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý trước năm 1891 không tìm ra tài liệu nào nói Lục Tỉnh có những địa chủ “ruộng thẳng cánh cò bay” cả, nguyên do từ một điều dễ hiểu sự chiếm hữu đất do người khác khai hoang chỉ có thể xảy ra khi tận dụng được khe hở pháp luật của Nghị Định ngày 6 tháng 3 năm 1891. Điều này cho thấy những lý luận Mác-xít cho rằng việc tự do khai phá sản sinh ra giai cấp “tiền tư bản” ở Lục Tỉnh là điều cần dè dặt coi lại[35],. mà sai 1891 có những cuộc xâm đoạt dựa vào pháp luật mới phát sinh giai cấp địa chủ cả ngàn mẫu ruộng. Một yếu tố khác thúc đẩy sự xâm đoạt là vào thời kỳ này hệ thống giao thông đã phát triển và có những kế hoạch của Pháp khai phá đất mới, còn trước lúc đó Miền Nam còn hoang sơ với nhiều thú dữ rình rập khó ai có thể khai khẩn quá xa nơi cư ngụ của mình’ thứ đến ruộng nhiều mà cai quản không xuể thì tổn hao do thuế ruộng khó chịu nổi, cuối cùng tính cách Miền Nam ưa “làm chơi ăn thiệt” hơn chăm chút làm giàu.

***

Quay trở về cấu trúc làng Lục Tỉnh chúng ta thấy khái niệm làng đến sau nhu cầu nhân sinh tự phát “tìm một miếng đất cắm dùi”, và nhu cầu tâm linh càng đến sau hơn nữa tức chỉ có sau khi làng hình thành. Dù làng chính thức hay làng lậu cấu trúc làng cũng không chặt chẽ trong khuôn viên “lũy tre” như Miền Bắc, làng Miền Nam là tập hợp các cụm nhà rời rạc (gọi là ấp, tương đương với giáp ở làng Miền Bắc và Miền trung). Các ấp thường cách xa nhau một số đám ruộng và có quan hệ với nhau mang tính hành chánh nhiều hơn là gia tộc theo kiểu Miền Bắc và Miền Trung. Đến tận giữa thế kỷ 20, tức sau nhiều thay đổi chuyển biến, Gerald Cannon Hickey[36] còn ghi nhận: “Không như các ngôi làng quần tụ ở Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam, làng ở đồng bằng sông Cửu Long gồm nhiều ấp rải rác. Làng Khánh Hậu có 6 ấp hành chánh”. Vào thời đó trung tâm làng là ấp Đình A nằm ở phía Tây; bên cạnh xa xa có ấp Đình B, ấp Mới, ấp Thủ Tựu, ấp Nhơn Hậu và ấp Thủ Tựu. Về sau các ấp Đình A và B, ấp Mới và ấp Cầu thành làng Tường Khánh; còn ấp Nhơn Hậu và ấp Cầu là làng Nhơn Hậu[37].

Bởi vậy chùa ở Miền Nam không còn là của riêng một làng nào nữa mà thường trên một gò cao nào đó để cả vùng gồm nhiều làng thờ chung (trừ các chùa của người Khmer tại các phum sóc mang tính chất chùa làng). Thường là do một nhà sư dựng lên chứ không là kiến trúc do làng dựng lên như kiểu Miền Bắc thời xưa. Chính vì thế trong sự tích các ngôi chùa Miền Nam thường hay nói: “Nhà sư X vân du đến đây, thấy phong cảnh hữu tình lập am tu hành” là bởi thế. Ruộng chùa cũng ít ỏi, có lẽ do các tăng ni tự khai khẩn hơn là do làng cúng cấp (vì ruộng công rất ít) hay do mua hậu (nỗi lo hậu sự ở Miền Nam nhạt nhòa hơn Miền Bắc do tính cách “sống điệu nghệ” của dân xứ này). Ruộng chùa gần như chỉ có ở những tỉnh đã chịu sự chi phối của chính quyền trung ương ngoài Thuận Hóa từ lâu đời như Biên Hòa (17 mẫu 3 sào 10 thước 9 tấc) và Gia Định (125 mẫu 8 sào 9 thước), còn các tỉnh miệt dưới rất ít, chỉ thấy ở vài tỉnh như Định Tường (2 mẫu 2 sào 0 thước 6 tấc)[38]. Vì sao một di sản tâm linh “chùa làng” như đã nói ở chương “Nếp Làng” không theo chân di dân vào Miền Nam ? Đến nay chưa có công trình  nghiên cứu nào quan tâm đến điểm này. Chỉ có thể dựa vào những điều đã khảo sát để “giả thuyết”:

1.- Sự hình thành làng Miền Nam do những lưu dân nhiều thành phần khác nhau hình thành (không có sự lãnh đạo của một trưởng tộc như việc hình thành làng Miền Bắc và Miền Trung) nên yếu tố tâm linh cần có thời gian để đủ chín (vài thế kỷ) mới hình thành chùa làng (lịch sử các chùa mục đồng cách nay không bao lâu, cho thấy phải có quá trình diễn tiến tâm linh thờ Phật);

2.- Địa hình làng tản mác gây trở ngại cho việc hình thành chùa chung cho cả làng,, còn riêng từng ấp thì không đủ năng lực;

3.- Dĩ nhiên không thể bỏ qua yếu tố tâm lý: từ cuối thời Lê Trung Hưng Phật giáo bị suy đồi, nhiều danh gia phê phán Phật giáo kịch liệt (Đàng Trong có Nguyễn Cư Trinh) nên lòng tin giảm sút, sau này dẫn tới sự hình thành Phật giáo có sắc thái riêng của Nam Kỳ Lục Tỉnh như Phật giáo Hòa Hảo và Tịnh Độ Cư Sĩ sẽ nói ở phần sau.

Khái niệm chùa làng theo nghĩa Miền Bắc gần như không còn nữa. Tuy cũng có những chùa mang tên gắn liền với địa danh, nhưng chùa ở Miền Nam thường có một tên riêng không liên quan đến làng xã ở vùng đất chùa an trụ. Sự hình thành không còn mang tính chất sự “bảo hộ tập thể” cho toàn thể cư dân trong làng, mà thuần túy là tự phát của tâm linh của một nhóm hay thậm chí một vài người. Đặc điểm này thấy rõ qua một đặc thù chùa hình như trên khắp thế giới chỉ có ở Miền Nam Việt Nam: chùa mục đồng.

Loại chùa mục đồng này thường do trẻ chăn trâu chăn bò nặn bằng đất sét các tượng Phật mộc mạc, rồi dựng am nhỏ bằng lá dừa nước. Khởi ban đầu có thể là cuộc chơi đùa khi thả trâu bò ăn cỏ, nhưng tâm thức tín ngưỡng ẩn tàng chuyển biến thành thờ phụng. Khi đã thành hình thì tính chất linh thiêng dần dần thu hút người lớn tham gia, kiến tạo thêm thành chùa. Có những ngôi chùa mục đồng dần trở thành danh lam như chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài Hột, Tiền Giang; chùa An Phước ở Ba Tri, Bến tre; chùa Da Lươn ở Gò Công, chùa Phật Nổi ở Củ chi, … Lý thú là về sau hình thức lập tự này được một nhà nho ca ngợi qua câu đối ở chùa Long Phước, xã An đức, Ba tri, Bến tre:

Mục đồng thỉ tạo kim lưu tích;

Ông Trí tiên tu hậu hữu danh.

(Khởi đầu do mục đồng tạo dựng nay còn dấu vết;

Ông [Minh] Trí là người tu đầu tiên nên sau đó chùa có danh tiếng)

Nhìn vào chùa mục đồng chúng ta mới có một khái niệm chính xác về sự hình thành chùa ở Miền Nam: hết sức phóng khoáng. Mặt khác chúng ta cũng thấy Miền Bắc thời xưa trẻ em cũng nặn đất chơi như trường hợp cậu bé Vũ Công Duệ bắt cua và đĩa tạo thành con voi biết đi, biết múa vòi; nhưng trò chơi dựng chòi lá cho tượng đất sét riêng có ở miệt Lục Tỉnh. Trò chơi dựng chòi là nét đặc thù của miền sông nước: hàng năm đều phải cất lại hay sửa sang nhà cửa sau mùa lũ, trẻ em bắt chước theo thành trò chơi. Tính bắt chước của trẻ em là một tiêu chí phản ảnh hiện thực xã hội, thời nào cũng thế. Trước năm 1975, trẻ em miền nam hay chơi trò đánh trận giả là một ví dụ.

Ngược lại đình thì của riêng làng do tâm thức truyền đời nhớ ơn người khai khẩn không thể xóa mờ, dù bậc khai cơ lập ấp là ai nhiều khi chẳng biết. Nét rất riêng của thành hoàng Miền Nam lại rất ít vị có danh tính và thần tích hẳn hoi[39], đa phần các đình chỉ thờ “Thành Hoàng Bổn Cảnh” một cách chung chung nhưng hầu như không có những thành hoàng “xấu” và chẳng có lệ “cúng hèm[40]. Đình không còn bị bó buộc “ở đầu làng sau khi qua khỏi cảnh chùa quãng ngắn” như làng Miền Bắc nữa. Đình có thể nằm ở một ấp nào đó của làng, nằm cách xa các ấp khác, thường gọi là ấp đình (ở nơi đô hội gọi là xóm đình). Nói khác đi cấu trúc hình thành đình của làng không còn như ở Miền Bắc nữa, đã biến đổi đi khá nhiều. Một trong những khác biệt đáng chú ý là đình ở Miền Nam thường có một bình phong phía trước (bằng gạch xây hay bằng đá) có khắc hình ông cọp. Phải chăng đó là ghi dấu tâm linh thời mới khẩn hoang mở đất.

Đình không còn giếng nước phía trước dùng chung cho cả làng, cũng không là nơi hội đồng làng nhóm họp, đơn thuần là nơi nhớ ơn bậc khai cơ lập nghiệp vùng đất. Lúc đó đình chật hẹp không thích nghi cho hội họp của mô hình mới, nhà hội tề hay nhà hội đồng được mọc lên và các chức sắc tề tựu ở đây bàn việc. Do vậy chúng ta cũng thấy có một nét khác với Miền Bắc và Miền Trung: các chức sắc Miền Bắc và Miền Trung do làng cử ra, còn ở Miền Nam thường do ông quận hay ông huyện chỉ định với danh nghĩa dân cử. Cũng vì thế vai trò “bán tự trị” truyền thống cũng không còn, các chức việc trong làng Miền Nam đơn thuần chỉ còn làm công việc hành chánh chứ không có quyền ban phát và xử đoán nữa. “Ông Già Nam Bộ” Sơn Nam nhìn thấy điều này: “Đình và công sở làng chia làm hai cơ ngơi. Nơi hương chức giải quyết việc hành chánh gọi là ‘nhà làng’, ‘nhà việc’. hoặc sau này, khi Pháp đến, nhiều địa phương xây nhà hình vuông, gọi là nhà vuông, nhà hội[41]. Tuy cụ Sơn Nam không nói rõ “hai cơ ngơi” đó cái nào xây trước cái nào xây sau, nhưng chúng ta có thể ngầm hiểu “đình” có trước do nhu cầu tâm linh dân tộc. Khi việc của đình đã nhiều thì tác dụng quần tụ các ấp trở nên rõ ràng hơn và từ đó phát sinh ra “việc làng”. Có việc làng thì phải có nơi để làm việc và có người lo việc, “nhà việc” và các hương chức vì thế mà ra đời. Dĩ nhiên lúc ban đầu hương chức được cử ra theo kiểu Miền Nam, người đứng ra nhận lãnh (thường do dân kêu cầu) là những người đôn hậu và có uy tín, dám chịu tiêu tốn tài sản riêng để lo việc làng về sau lại thường do quan chức cấp trên cắt đặt để tiện việc quản lý. Chúng ta cũng không thấy tư liệu nào ở Miền Nam nói về các lệ đóng góp bắt buộc và quy định khắt khe về việc “sổ đinh” của làng. Sự đóng góp thuở ấy là tùy tâm và sự gia nhập vào một làng gần như tự nhiên nếu muốn. Không có trường hợp “bạch đinh” ở Miền Nam, chỉ có những người bị kêu án không dám cung khai thân phận thôi.

Như thế, thuở ban đầu làng không có chức sắc, xóm giềng nương tựa vào nhau chỉ bằng tấm lòng điệu nghệ bởi vì làng Miền Nam là hiện tượng “hành chánh hóa” các ấp tự lập để dễ cai trị. Mãi cho đến đời Tự Đức mới có một vài nơi các ấp quần tụ lại thành làng và cử ra người trông coi việc làng nhưng không giống như hội tề Miền Bắc. Các câu chuyện dân gian truyền khẩu, lẫn các tư liệu gần như không thấy mô tả cảnh cường hào ác bá như Miền Bắc, Miền Trung (trừ những tài liệu do các cây bút xứ Đàng Ngoài nói chung chung làm chúng ta lầm tưởng làng Miền Nam cũng thế). Đến đầu thế kỷ 20 người Pháp mới rập theo khuôn Miền Trung và Miền Bắc lập ra ban hội tề và hương ước cho từng làng dựa theo chương trình “cải lương hương chính” do thống sứ Bắc Kỳ ký nghị định ngày 12-8-1921[42]. Các hương ước đó viết bằng chữ quốc ngữ theo mẫu của chính quyền thuộc địa và giới chức trong làng đa số là những người theo tân học, có tư tưởng “cải lương xóm làng”. Đáng tiếc cụ Sơn Nam cho rằng nghiên cứu sâu vào hiện tượng xã hội này “là việc làm của các nhà nghiên cứu”, cụ chỉ đề cập đến các hiện tượng văn hóa ghi nhận được thôi. Có lẽ sau này có vị sáng suốt sẽ nghiên cứu cặn kẽ cấu trúc làng Miền Nam, hình thái và nguyên nhân của nó.

Do bối cảnh như thế, lễ hội làng ở Miền Nam cũng hiếm những đặc thù riêng của từng làng như ở Miền Bắc (do làng ở Miền Bắc có thần tích riêng để diễn xướng), chủ yếu lễ kỳ yên của Miền Nam rơi vào hai mùa Xuân Thu Nhị Kỳ như tập quán cúng Thần Nông. Về vị trí, cốt yếu là tìm được khu đất cao dựng đình để có thể quanh năm hương khói, và vào mùa nước nổi nên có thể nằm lọt thỏm giữa nhà dân làng nên như nhà văn Sơn Nam nói “không quá gần chợ cũng không hẻo lánh như chùa”. Đình cũng không còn là nơi sinh hoạt cộng đồng làng xã, sinh hoạt đó được thay thế bằng sự tụ họp tại nhà một ai đó uống rượu nói chuyện phiếm hay đàn ca tài tử. Do vậy sân đình không rộng như miền Bắc và cũng chẳng còn ao phía trước, sân đình chỉ vừa đủ để làm lễ kỳ yên và vì thế thường hay lát gạch Tàu cho sạch sẽ. Nhìn khái quát lễ kỳ yên ở Miền Nam đa phần chỉ có phần lễ chứ không có phần hội như hội làng Miền Bắc. Điều này thấy rõ qua cuốn “Lễ Hội Việt Nam[43], dày trên ngàn trang rặc mô tả những lễ hội[44] Miền Bắc. Tương Tự, tiến sĩ Huỳnh Quốc Thắng tuy viết cuốn sách nhan đề “Lễ Hội Dân Gian Ở Nam Bộ[45] cũng chỉ tán chung chung những điều “ai cũng biết rồi” và cũng chẳng nói lên gì cho nhiều về lễ hội, nhất là về phần hội (có thể bói đây là loại sách đọc cho vui hơn là sách khảo cứu của một tiến sĩ). Các lễ có hội trong Nam thường là của người Khờ-me và người Hoa, như hội đua ghe gho, hội thả đèn cúng trăng (của người Khờ-me), hội múa lân-sư-rồng thượng nguyên ở Chùa Bà Bình Dương (người Hoa), … Chỉ nói đến lễ hội tạm gọi là thuần việt là Lễ Hội Tầm Vu (Long An), nhưng lễ hội này gốc từ Bình Định[46] du nhập vào và cải biên lại, tức lễ cúng cô hồn với ông Tiêu và giành nhau giật đồ cúng thí. Thuần Việt hơn có lễ hội Tứ Kiệt (kỷ niệm bốn ông ở Cai Lậy: Đuốc, Long, RộngThận), có ân đức đánh Pháp cứu nước, lễ Lăng Ông Bà Chiểu nhưng mang sắc thái lễ cúng giỗ tưởng niệm hơn là lễ hội đúng nghĩa như ở Miền Bắc (chắc chắn không có hội vui chơi). Chỉ sơ sài như thế. Nguyên nhân, theo tôi, do tính cách phóng khoáng của người Miền Nam, các tích khai cơ lập nghiệp không được ghi chép lại, kể cả truyền khẩu. Vì không có điều này nên các lễ hội như làng Miền Bắc không thể có (lễ hội Miền Bắc gắn với thần tích thành hoàng của làng).

Bù lại đình làng Việt có một võ ca[47] dùng để diễn tuồng tích mỗi dịp có lễ hội kỳ yên thay cho sự trống vắng kiểu hội làng truyền thống[48] xứ Đàng ngoài, đây là nét đặc trưng thường chỉ thấy từ Bình Thuận trở vào. Có một điểm cần lưu ý Võ ca tương truyền do Tổng Trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệt khởi xướng do Ngài rất thích xem hát. Các tư liệu nói về Võ ca cũng cho thấy xuất hiện vào khoảng thời gian này, mà lúc ấy cải lương chưa ra đời. Nên Võ ca lúc đầu nhằm cho diễn hát bội, sau này cải lương[49] mới thay thế. Võ ca ở đình Miền nam cũng thường có một mục tạm gượng ép coi như là hội do có tính “giải trí”, nhưng xét kỹ ra nặng về lễ hơn hội: đó là múa bóng rỗi.

Nhiều ý kiến cho rằng múa bóng rỗi là sự biến cách của múa đồng của Đạo Mẫu theo hướng tiếp biến với văn hóa Chăm và Khờ-me nhưng thực tế khảo sát có nhiều khác biệt khá sâu sắc, khó đánh giá là sự chuyển biến từ hình thức múa đồng:

a.- Người múa bóng rỗi không thể hiện bất kỳ yếu tố nào có thần linh nhập xác. Đơn thuần là người dâng lễ vật theo điệu múa và biểu diễn mua vui;

b.- Người múa bóng rỗi không thể hiện quyền lực siêu nhiên nào đối với người tham dự như phán truyền, trị bệnh, ban lộc. …;

c.- Ngoài những kỹ năng tạp kỷ người múa bóng rỗi không biểu diễn vu thuật như xiên lình, ăn mảnh chai, …

d.- Hàm chứa tính chất làm trò vui ngay cả trong múa dâng có tính chất thiêng liêng, yếu tố giải trí này không hề có trong múa đồng. Chính vì vậy múa bóng rỗi khác với múa đồng ở điểm là phần phụ của lễ cúng;

e.- Những người múa bóng rỗi vào dịp mới họp lại với nhau đi múa, không thuộc một tổ chức tôn giáo có quy củ như Đạo Mẫu.

Múa bóng rỗi chia làm 3 phần: hát rỗi, múa bóng và múa tạp kỷ.

1.- Hát rỗi: là những bài hát thỉnh thần về ngự để tiếp đến múa dâng lễ. Hình thái này giống như loại hát chầu nhưng có điểm khác ở chỗ hát rỗi chỉ hát ở đình miếu và thể loại “ngẫu hứng” hơn. Làn điệu có thể mượn từ cải lương, hát bội, các điệu lý, điệu hò, cả hát văn, … hay hiện nay cả tân nhạc. Cốt sao lời hát ca ngợi thần linh và khấn xin thần linh về chứng giám và hộ trì.

2.- Múa dâng lễ là múa dâng lễ vật lên thần. Loại múa này là yếu tố chủ đạo trong múa Pajao. Thường có mấy loại múa sau: múa dâng bông, múa dâng mâm vàng mã, múa dâng lộc (trầu cau, trái cây) và múa tạp kỷ. Loại hình múa tạp kỷ chính là yếu tố “hội” và biến đổi rất đa dạng, như múa bông huệ, múa dao, múa nhạo, múa đuốc, múa đèn, múa dĩa,… Và tiết mục này không là đặc trưng riêng của làng nào cả.

*****

Vai trò “trung tâm chính trị” của làng như Miền bắc không còn tồn tại do tính chất hình thành làng rất tự do tự phát. Thuở đầu làng miền Nam không có hương ước[50] nên lệ làng kiểu Miền Bắc hình như không còn tồn tại, dân làng chỉ cư xử với nhau theo “quán tính” thấy là “hợp đạo làm người”. Đó là điều dễ hiểu khi mà ở Miền Nam người làng này có thể sở hữu ruộng đất ở làng khác (điều mà làng Miền Bắc không thể nào chấp nhận) gọi là “ruộng phụ canh[51]: không thể áp đặt chính sách làng lên người không thuộc làng mình, ngược lại tiềm lực quản trị làng lại dựa vào khoản thu từ ruộng đất. Mặt khác vấn đề ruộng đất cũng đóng vai trò quyết định: làng Miền Bắc có tỷ lệ ruộng công do làng quản lý cao còn ở Miền Nam chỉ chiếm 8,116% diện tích đất đai[52]. Thế nhưng tỷ lệ vốn nhỏ bé này (so với các vùng còn lại) cũng dần dà giảm đi, đến khi Yves henry làm một cuộc điều tra từ năm 1928 đến 1930 cho thấy công điền công thổ ở Miền Trung là 25%, Miền Bắc 21%, còn Miền Nam chỉ 3%[53]. Do vậy uy quyền “kinh tế” của bộ máy làng xã ở Miền Nam gần như không có nên uy quyền “cai trị” thông qua chia quyền lợi cho thuê ruộng làng không còn. Việc làng rối rắm cũng ở bởi chia chác ruộng nương, không có nó thì hội họp gần như chẳng còn gì để bàn. Đình Miền Nam không cần rộng rãi một phần cũng vì lẽ này.

Ở đây xin mở ngoặc nói thêm thuở ban đầu làng Lục Tỉnh hầu như không có công điền công thổ. Có lẽ đến đầu triều Nguyễn công điền công thổ mới xuất hiện vì 2 tác nhân chính:

a.- Chính sách quân điền cho quân lính đi khai phá đất làm đồn điền (vừa là ruộng vừa là đồn lính),

b.- Kinh lược đo đạc đất đai của Trương Đăng Quế có tịch thu những đất đai khai man và bỏ hoang giao cho làng quản lý[54]. Do vậy khảo cứu địa bạ 1836 chúng ta thấy những vùng nhiều công điền công thổ là Định Tường, Gia Định, An Giang, Biên Hòa, Vĩnh Long, Hà Tiên. Những nơi này có thiết chế lập đồn điền vì là những vùng trọng yếu quân sự chính trị theo chính sách thời Minh Mạng, sau đó giải tán giao lại cho phủ huyện hay làng quản lý.

Do vậy, đình chỉ thuần túy là nơi thờ cúng và để đáp ứng nhu cầu tâm linh không thuần túy thờ thành hoàng, mà thờ nhiều thần khác tùy theo mỗi vùng, du nhập cả Ông Tà (những vị thần của người Khờ-me), Quan Võ (của người Hoa), các Bà Chúa Xứ (mang hơi hướm Chăm) vào[55]. Tính chất đa thần này có lẽ không khác mấy so với người Việt thời Văn Lang Âu Lạc, thể hiển bản chất dễ dung hợp cái mới của dân tộc thuần nông.

Bản sắc “làng-nhà nước” kiểu Miền Bắc cũng phai nhạt ở Miền Nam. Khó tìm thấy tư liệu biên khảo cũng như trong tiểu thuyết Miền Nam hình ảnh làng phạt vạ như trường hợp ông thứ chỉ kết tội Thị Minh “Làng ta từ cổ đến giờ có ai dám bậy bạ như nhà các người, bỗng ngày nay bị phạm lây một sự xấu xa, thành thử danh giá làng thua kém các làng bên, vậy tội của bố con chị không phải là không to, nhưng làng thương tình mà phạt từng này thôi: sáu đồng bạc, hai trăm cau tươi và tám chai rượu[56], mà ở Miền Nam ngay cả mối tình “cha mẹ không đồng ý” như trong chuyện “Ruộng Lò Bom[57] ông Hai Don phạt Lệ và Tư Cồ bằng cách cho ra làm ăn riêng (không thấy tăm hơi của làng xã can thiệp vào). Một khía cạnh khác: dân làng Miền Bắc rất sợ không có tên trong sổ đinh vì như vậy những việc quan hôn tang tế không được làng chứng nhận và giúp sức. Điều này hoàn toàn là khái niệm xa lạ đối với dân miền sông nước Lục Tỉnh bởi lẽ chẳng cần biết người sống gần mình là dân ngụ cư hay dòng tộc lâu đời, hễ khi có việc hiếu hỉ thì cả làng tự động xúm nhau lại phụ giúp. Đó là cái mà nhà văn Sơn Nam gọi là “sống điệu nghệ”. Biết sống điệu nghệ của dân Miền Nam không có một khái niệm hay định nghĩa cụ thể, chỉ là một “cảm nghĩ” chung của mọi người vào từng thời điểm và từng nơi. Nghĩa là cách sống làm sao được mọi người chung quanh đồng tình là được, có thể chẳng hay ho gì. Chẳng hạn đêm tân hôn “chú rể” bỏ mặc “cô dâu” một mình đặng đàn ca hát xướng với bạn bè mới là tay điệu nghệ với bạn bè. Nhưng cũng có những “điệu nghệ” đáng khen như chẳng bao giờ bỏ rơi người đang hoạn nạn, bất kể đó là “dân đinh” của làng hay không. Câu chuyện mang cá tính “điệu nghệ” rất đặc thù dân Lục Tỉnh là “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư[58] của nhà văn Sơn Nam. Chuyện kể rằng ông phái viên báo “Chim Trời” xuống tận miệt Cà Bây Ngọp tìm ông Trần Văn Có đòi nợ “sáu tháng tiền báo tức là hai đồng sáu cắc rưỡi”. Tới nơi sau một hồi chuyện vãn về cuốn “Quốc Văn Giáo Khoa Thư”, ông phái viên quên phắt chuyện đòi nợ. Còn ông Tư Có không có tiền trả, áy náy phân trần: “Thầy hiểu cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong… nhờ thầy đem về Sài Gòn gọi là tiền của tôi trả cho nhà báo. Tôi ‘đăng’ là vì ái mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho đủ bộ”. Tính cách điệu nghệ của thầy phái viên nhà báo nói liền: “Anh Tư đừng ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc. Lâu lâu dò nơi mục Thư tín không chừng có lời của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng đòi tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ gởi tặng anh Tư một số báo, hoài hoài cho tới số chót”. Trong câu chuyện này còn có “điệu nghệ” của thầy xã ganh danh ghét tiếng với Tư Có, tự nhũ: “Ông phái viên này kêu mình bằng thầy mà lại tưng bốc kêu Tư Có bằng ông. Hay là ổng chê mình không dám xuất tiền mua báo như Tư Có. Chừng bận về, mình mua vài năm báo chơi cho biết mặt”.

Tôi còn nhớ khi xưa, dù nhà chật hẹp ba vẫn vui lòng cho hàng xóm để nhờ đồ đạc khi cất nhà. Đôi lúc quá chật chội má tôi bực bội than phiền, ba tôi nói ngay: “Sống cho biết điều một chút. Không thì sống với ai?”. Nhiều lúc ghé chơi đôi ngày miệt làng quê Lục Tỉnh hồi khoảng cuối thập niên 1970 tôi từng chứng kiến khi có ai lợp nhà chỉ cần “” một tiếng là chòm xóm kéo đến phụ mỗi người một tay cho đến khi xong việc. Chẳng ai đòi hỏi công cán gì cả, và chủ nhà phải biết “điệu nghệ” một bữa nhậu cho vui. Tính điệu nghệ dân Miền Nam là như thế đó nên cái cảnh người không có tên trong sổ đinh phải than vãn: “Nhà ấy đã không thèm tuân lệ làng, từ sau trở  đi, những lúc làng có ăn uống, không ai được ngồi với người nhà  ấy, và rồi nhà ấy có người nào chết, bất kỳ đàn ông, đàn bà, họ xa, họ gần, làng sẽ không khiêng[59] không hề thấy trên tài liệu hư cấu lẫn phi hư cấu nói về miệt Lục Tỉnh.

Cũng chính vì đặc tính này mà cơ chế làng kiểu Miền Bắc không thể bám rễ ở trong Nam, dù rằng những di dân miền Bắc vào Lục Tỉnh thời nào cũng có. Có vẻ như những di dân này thừa nhận “lối điệu nghệ” Miền Nam hơn là “bày vẻ” theo kiểu cách Miền Bắc dù có những làng rặc toàn dân miền bắc di cư.

Chuyện cúng tế cũng chẳng thấy tư liệu nào, dù hư cấu hay phi hư cấu, quy định “giáp A” hay “giáp B” lo toan chuyện làng phần to nhỏ thế nào, mà thường dân chúng các ấp tự nguyện đóng góp không phân biệt kẻ ít người nhiều. Khi cúng quải xong chuyện chia phần cho “quan làng” cũng không thấy nói, thường mọi người “xúm” lại ăn nhậu vui vẻ không có chuyện “chiếu trên chiếu dưới”, thanh niên lo dọn bàn phục vụ các cụ và sau rốt tụ phía sau đình vừa hát xướng vừa ăn nhậu. Đàn ca tài tử reo vang, thay cho những trò chơi cờ người, đu tiên, đánh vật, … như ở Miền Bắc.

Những hình ảnh cúng kỳ yên thế này hoàn toàn xa lạ với những mô tả của những cây bút Miền Bắc di cư vào Nam như Nhất Thanh, Toan Ánh, … Thế nhưng chúng ta có một thói quen lấy những cứ liệu của các tác giả này để nói về “việc làng”, chừng như làng Miền Nam và làng Miền Bắc tập quán chẳng có gì khác nhau. Thực tế, làng hai Miền có những khác biệt mang tính “bản sắc”; thực tế buộc chúng ta phải nhìn nhận lại như thế chứ không phải do “kỳ thị” như một số người vội phê phán khi nhận định vậy.

XX.- Văn hóa


 
[1] PGS, TS. Ngô Văn Minh, Tái định cư trong lịch sử nam tiến dưới chế độ phong kiến Việt Nam.

[2] Trước kia toàn vùng này dưới quyền coi sóc của Gia Định Thành chưa phân chia thành tỉnh. Sau khi Lê Văn Duyệt mất và dẹp xong vụ nổi dậy của Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng mới chia làm 6 tỉnh. Từ đó quen gọi là Lục Tỉnh.

[3] Vùng Cao Nguyên đến thời Nguyễn vẫn tự trị với hai “nước” Thủy Xá và Hỏa Xá, triều đình chưa đặt quan cai trị trực tiếp nên vẫn còn địa danh theo tiếng bản địa như Buôn Ma Thuộc, Kontum, Pleiku, … Đây là một minh chứng khác cho lập luận trên.

[4] Trong cuốn “Chế Độ Công Điền Công Thổ Ở Nam Kỳ Lục Tĩnh” tác giả Nguyễn Đình Đầu phủ nhận bà là công nữ Ngọc Vạn vì không thấy ghi điều này trong chính sử. Quả đúng vậy, nhưng cuốn Gia Phả Nguyễn Phước Tộc (không thuộc thư khố triều đình) lại có ghi.

[5] Cuốn “Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, tác giả Andrien Launay, xuất bản ở Paris năm 1923.

[6] Đến Triều Nguyễn mới có từ Lục Tỉnh.

[7] Huỳnh Lứa: Vài nét về cuộc di chuyển dân cư và khai thác những vùng đất mới ở Đồng Nai – Gia Định trong các thế kỷ 17, 18. Bài đăng trong tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, số 3, tháng 5&6/1978, tr41

[8] Do Nguyễn Tri Phương, lúc đó là Kinh Lược Nam Kỳ, tấu xin. Vua Tự Đức bàn với quần thần, chuẩn thuận: “mộ người từ Bình Thuận trở ra giao cho hai tỉnh An Giang và Hà Tiên. Kỳ dư ra giao cho các nơi khác”.

[9] Trường hợp Mạc Cửu có một tính chất khác. Mạc Cửu là thương nhân có tính phiêu lưu, từng làm quan với vua Chân Lạp nên sự thích ứng môi trường mới rất nhạy. Vả lại Hà Tiên thường có ghe tàu Trung Hoa ghé vào (nên mới có sự kiện trao đổi văn thơ với các thi nhân ở Trung Hoa lưu lại trong tập Hà Tiên Thập Vịnh) và cũng đã có sẳn ít nhiều lưu dân Việt sống ở đó.

[10] Vào mùa nước lũ nước dâng trắng xóa quanh vùng Châu Đốc. Người ta chỉ thấy “giồng Châu Đốc” còn đỏ đèn.

[11] Nguyễn Hiến Lê: Bảy Ngày Ở Đồng Tháp Mười, 1923.

[12] Trong Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức viết: “Mỹ Tho Đại Phố có nhà ngói cột chạm, đình cao, chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc, làm thành chốn đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo

[13] Trong cuốn Monographie de Mỹ Tho 1902 viết cụ thể: “…Vị trí của Mỹ Tho thật tuyệt diệu. Nó chiếm một vị thế trung chuyển quan trọng vào bậc nhất cho các loại ghe chài to lớn từ miền Tây lên Chợ lớn (Sài Gòn) qua con kinh Bảo Định và con kinh Chợ Gạo. Mỹ Tho lại có con đường sắt đầu tiên của Đông Dương, con đường sắt Sài Gòn-Mỹ Tho và con đường thủy nối liền Sài Gòn và các tỉnh miền Tây lên tận Pnôm Penh qua bến Tàu Lục Tỉnh Mỹ Tho….

[14] Có tác giả nói sự hình thành làng thương mại trước rồi thành làng hành chánh ở Nam Bộ là do người Pháp mà ra. Chứng minh trên cho thấy nhận định này không đúng.

[15] Theo tổng kết của Nguyễn Đình Đầu, Nam Kỳ Lục Tỉnh có dân số: 2.760.879 (1910), 2.825.980 (1915), 5.079.700 (1943), và 5.188.120 (1955) [Nguyên Cứu Địa Bạ Triều Nguễn: Tổng Kết Nam Kỳ Lục Tỉnh, trang 114]. Nhìn qua những con số này thấy rõ đó không phải là sự gia tăng dân số tự nhiên, mà vai trò di dân là nhân tố rất quan trọng.

[16] Dĩ nhiên cũng có vài trường hợp cá biệt như trường hợp như vùng đất Cai Lậy hình thành vào khoảng thế kỷ 17 lần lượt do hai ông Nguyễn Văn Lữ, tục gọi là Cai Lữ (lập làng Bình Thuyên) và Cai Cơ Ngô Tấn Lễ (lập làng Hữu Hòa). Chữ “Lậy” do nói trại để tránh kỵ húy hai ông và cả hai được phong thành hoàng. Ngoài ra còn có: Lê Công Giám (làng Kim Sơn, Châu Thành, Tiền Giang, cuối thế kỷ 18), Phạm Đăng Dinh (làng Sơn Quy, Gò Công, giữa thế kỷ 18), Lê Văn Hiếu (làng Hòa Khánh, Cái Bè, giữa thế kỷ 18), … Nhưng so với những đình làng thờ “Thành hoàng bổn cảnh” không thần tích thì số lượng không đáng kể.

[18] Trang 222, cuốn “Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam”, NXB TP Hồ Chí Minh, 1996. Tuy nhiên tác giả cố chứng minh các học thuyết Ngũ hành Dịch lý một cách gượng ép để chứng minh chúng có nguồn gốc Việt Nam và một vài đoạn theo thông lệ “căn cứ vào lý luận của Marx”.

[19] Dù tác giả có đôi dòng: “Miền Nam làng xã hơi khác. Dân làng ở rải rác trên địa phận làng, không hợp nhau thành xóm, và chung quanh làng không có lũy tre xanh. Làng ở miền Nam thường rộng lớn hơn các làng miền Bắc, và chia làm nhiều ấp, và mỗi ấp ở đây có thể coi như một thôn miền Bắc có khi địa thế lại rộng và dân cư lại đông hơn một làng miền Bắc hoặc miền Trung.” Chỉ có mấy dòng như vậy, không nói lý do vì sao có dị biệt đó; trái lại lối viết khiến người đọc dễ nhầm lẫn tất cả các làng quê ở Việt Nam đều như tác giả mô tả. Ví dụ chương đầu sách có tiêu đề “Nhận Diện Làng Quê”, có cảm tưởng như muốn biết đó là làng quê Việt Nam, dù ở Nam hay Bắc, phải dựa trên điều tác giả trình bày. Đặc biệt hơn trong cuốn này chương “Nguồn Gốc Làng Xã Việt Nam” tạo một cái nhìn lệch lạc khi người đọc ngộ nhận làng Nam Kỳ Lục Tỉnh cũng vậy.

[20] Tính đến thời điểm 2012, khi viết dòng này.

[21] Làm sách giáo khoa chính thức hồi giữa thế kỷ 20.

[22] Trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Phan Huy Chú có ghi nhận: Hiếu Minh Vương tức chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) chiêu mộ những người có tiền của ở Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Nghĩa, Quy Nhơn tụ tập dân chúng di cư vào đây. Nhưng dấu vết thờ thành hoàng ở Miền Nam không mấy ghi nhận sự kiện này như truyền thống từng làm. Có thể sự di dân vào Nam có tổ chức thời chúa Nguyễn không lấy gì làm nhiều, có thể chỉ xảy ra ở vùng đất Nam Trung Kỳ và Đông Nam Kỳ như trường hợp đình Thắng Tam ở Vũng Tàu.

[23] Theo sử liệu, vào thời đó Lục Tỉnh có 3 hiệu đồn điền: Gia Viễn (Định Viễn cũ) có 14 hiệu, 142 trại và 6.174 người; Gia Bình (Tân Bình cũ) có 3 hiệu, 22 trại và 750 người; Gia Phước (Phước Long cũ) có 1 hiệu, 4 trại và 138 người.

[24] 1) Đoàn thứ nhứt do Bùi Văn Thân (Ông Tăng Chủ) và Bùi Văn Tây (Ông Đình Tây) vào khai phá vùng Thất Sơn, chung quanh núi Két, thành lập hai trại ruông là Hưng Thới và Xuân Sơn, lập đình Thới Sơn, nay hai làng thuộc huyện Tịnh Biên); 2) Đoàn thứ hai do quản cơ Trần Văn Thành (Ông Cố Quản Thành) khai hoang vùng Láng Linh sình lầy nước đọng thành lập trại ruông mang tên Bửu Hương Các, cũng là căn cứ cuộc khởi nghĩa Láng Linh (1871-1873), nay thuộc xã Thạnh Mỹ Tây (An Giang); 3) Đoàn thứ ba do ông Đặng Văn Ngoạn (Ông Đạo Ngoạn) khai hoang vùng Đồng Tháp Mười, ở khu vực rạch Trà Bông, sông Cần Lố, rạch ông Bường, xây dựng một chùa ở tại Trà Bông (chùa ông Chín), nay thuộc xã Nhị Mỹ, Cao Lãnh, Đồng Tháp; và 4) Đoàn thứ tư do ông Nguyễn Văn Xuyến (Ông Đạo Xuyến) khai hoang khu vực Cái Dầu, nay thuộc xã Bình Long, Châu Phú, An Giang, lập chùa Long Thới.

[25] Đại Nam Thực Lục, trang 48-211, tập 18, NXB Khoa Hoc Xã Hội, Hà Nội, dành để nói việc này.

[26] Theo nghiên cứu của Sarah Merette trong bài viết “How different were the political/economic landscaptes of Tonkin and Cochinchina (1900-1940)?” (EH590 – October 20th 2010), thuế ruộng ở Miền Nam nhẹ hơn ngoài Bắc và miền Trung rất nhiều. Tác giả có đưa ra nhiều bảng đối chiếu cụ thể dựa trên các tài liệu lưu trữ đáng tin cậy. Nhưng chính vì thế mà người dân khi mới khai hoang “chưa vội xin bằng khoán đất” vì đất chưa đủ sinh lợi để nộp tô. Từ nguyên nhân này mới xảy ra những vụ “đoạt ruộng” và những người đoạt được nhiều trở thành đại điền chủ còn người khai phá trở thành tá điền.

[27] Arrêt du 6 mars 1891.

[28] Article 3: Du 1er avril au 31 octobre 1891, tous ceux auront des réclamations à faire valoir, soit contre les conscriptions portées au Dia-bo, soit pour défaut d’inscription, soit comme un détenteur de droits réels affectant la propriété, devront en faire la déclaration à l’administrateur, qui fera la mention sur les nouveaux registres;

[29] Article 4: Si lesdites déclarations sont contestées, et si les parties ne peuvent être mises d’accord par l’administrateur, elles auront à se pourvoir devant les tribunaux pour le règlement du litige.

Chaque fois que le tribunal prononcera un jugement entrainant une mutation de propriétté, transcription devra en être transmise par le grieffer à l’administarteur conservateur de la propriété.

[30] Article 6: À partir de l’achèvement des bouveuax registres de la propriété, aucune mutation ne pourra y être faite que par l’administrateur et en verti d’actes authentique dont il conversera copies.

L’administrateur avisera de suite les villages de ces mutations et elles seront inscrites sur l’exemplaire du registre en la possession du village, au fur à mesure des avis ainsi donnés.

[31] Điển hình là tiểu thuyết của Ngô Tất Tố. Ngô Tất Tố tuy vậy vẫn có nhiều hư cấi cường điệu nên cần dè dặt khi khảo cứu. Ví dụ cụ kể chuyện một con gà phay ra thành non trăm phần đều nhau với những miếng mỏng dính là điều “khó tin”, mang tính chất gây “bức xúc” dư luận nhiều hơn “tả thực”. Sau 1975 mới xuất hiện nhân vật “Hội Đồng Dư” trong một vở cải lương, thực chất là tuyên truyền hơn là tác phẩm nghệ thuật phản ảnh cuộc sống như thường ca tụng “nghệ thuật vị nhân sinh”.

[32] Điển hình là tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh.

[33] Nay thuộc xã Phong Thạnh B, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Vụ án nổi tiếng này xảy ra năm 1928, nhưng không phải là vụ án ruộng đất đầu tiên. Tháng 5 năm 1927 đã xảy ra vụ xô xát về tranh chấp ruộng đất ở Ninh Thạnh Lợi, Rạch Giá.

[34] Như các tờ L’Écho Annamite, Đông Pháp thời báo, L’Impartial, l’Opinion, Le Courrier Saigonnais, Le Phare, La Tribune Indochinoise.

[35] Như biện luận của Nguyễn Đình Đầu trong cuốn “Chế Độ Công Điền Công Thổ Trong Lịch Sử Khẩn Hoang Lập Ấp Nam Kỳ Lục Tỉnh”, NXN Trẻ TPHCM 1992. Có lẽ ý tưởng này chịu ảnh hưởng từ Trần Văn Giàu, mang tính “tuyên truyền” nhiều hơn nghiên cứu chân thực. Tác giả Nguyễn Đình Đầu có dẫn cuốn “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn ra chứng minh nhưng quên một yếu tố cụ Lê chưa rời xa khỏi đất Quảng Nam (có chăng nhất thời đến Đồng Nai một thời gian ngắn mà thôi), ngược lại không tính rằng con mắt ghi chép của Trịnh Hoài Đức không thấy nói đến nạn “địa chủ” trong tác phẩm Gia Định Thành Thông Chí mà tác giả Nguyễn Đình Đầu nhiều lần viện dẫn. Ông còn nhiều lần nhắc lời tây của Trương Đăng Quế “cường quyền bá chiếm” nhưng không lưu ý đó là một kiểu tâu sớ, nếu có những tay cường quyền bá chiếm kiểu “tiền tư bản” thì Quế đã giải về kinh để chứng minh. Khái niệm bá chiếm kiểu miền Bắc không có ở Miền Nam thời khai hoang lập ấp vì đất đai còn mênh mông mạnh ai nấy khai thác.

[36] Trong cuốn “Village In Vietnam”: “Unlike the agglomerative villages of northern and central Vietnam, the Meking River delta village is comprised of a number of dispersed hamlets. Khanh Hau has six administrative hamlets” (page 1). Tác phẩm này khảo sát làng Khánh Hậu, tỉnh Long An ngày nay, vào đầu thập niên 1960.

[37] Những địa danh Hán Việt này mới được vua ban sau này vì làng này là nơi sinh trưởng của công thần Nguyễn Huỳnh Đức.

[38] Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn: Tổng Kết Nam Kỳ Lục Tỉnh, trang 155.

[39] Về sau các di dân theo dòng tộc (trước đó là di dân lẻ tẻ tự phát) từ Miền Bắc, Miền Trung đi vào mới xuất hiện những đình có thành hoàng mang thần tích rõ ràng. Những thành hoàng đó là những vị từ quê cũ được các di dân thỉnh vào cùng. Chúng ta có thể điểm thấy: Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không ở đình làng Cẩm Vân (Cai Lậy), Phi Vận Tướng Quân Nguyễn Phục ở đình làng Hòa Lộc (Cái Bè), … và rất nhiều nơi ở Miền Nam thờ Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương do ngư dân Miền Trung truyền bá.

[40] Cúng hèm là hình thức cúng tổ hay Thành hoàng mà lúc sinh tiền làm “nghề xấu hay hạ tiện“  nhưng chết vào giờ linh nên được tin phò trợ người làm cùng “nghề”. Hèm nghĩa thông thường là tên mà người ta đặt cho người chết để ghi trên bài vị thờ; tên hèm hay tên cúng cơm (thụy danh), cúng Hèm là cúng theo tên cúng cơm vì những người này chẳng hề có Sắc phong hay tên thụy tốt đẹp. Thường cúng hèm thường hay diễn lại cái tích của người được thờ, có thể đó là lúc hành nghề hay khi lâm nạn.

[41] Đình Miếu & Lễ Hội Dân Gian Miền Nam, trang 31, NXB Trẻ, 2004. Xin nói them, với tác phẩm này tác giả đánh mất bản sắc độc đáo của mình. Đọc trong đó tác giả nói rất nhiều về đình và lễ hội Miền Bắc và Miền trung (có thể do tác giả thâu lượm từ các sách của những cây bút Miền Bắc và xen chép lẫn lộn) nên nhận định về đình miếu và lệ hội ở Miền Nam có nhiều sai lệch. Chẳng hạn tác giả bàn miên man qua Tế Nam Giao dù nhan đề sách là Lễ Hội Miền nam, trong Miền Nam làm gì có tế Nam Giao, rồi đến các nghi thức lễ báu na ná kiểu Miền Bắc Miền Chung chứ chẳng nêu “hội” thế nào. Tác giả tuy có nói đến lễ tế ở Lăng Ông Bà Chiểu, nhưng đó rặt là nghi thức theo Nho giáo của Triều Nguyễn. Thật đáng tiếc.

[42] Sự kiện này gặp phản ứng của kỳ hào miền Bắc nên đến năm 1927 bãi bỏ, trở lại chế độ hương mục như cũ.

[43] Nhóm tác giả Phó Giáo sư Lê Trung Vũ Phó Giáo sư Tiến sĩ Lê Hồng Lý đồng chủ biên, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính; NXB Văn Hóa Thông Tin. Cuốn sách này được sự tài trợ trợ ngân sách Nhà nước. Trong cuốn này ngoài các lễ hội ở Thành Phố Hồ Chí Minh xuất hiện cách nay không lâu mang nhiều đặc thù Hoa Kiều, chỉ thấy lễ cầu ngư ở Kiên Giang và lễ Hội Tầm Vu (du nhập từ Miền Trung vào). Riêng về cuốn sách này chỉ là tập hợp những sao chép đã từng đăng trên web chứ không có chút đầu tư nghiên cứu gì. Ví dụ bài “Lễ Hội Giỗ Tổ Của Giới Hát Bội Và Cải Lương” ký tên người viết là Hồ Tường là sự chắp nhặt ghép bởi 2 bài viết đăng trên mạng, nửa sau là bài viết của nghệ sĩ Đinh Bằng Phi không sai một dòng chữ.

[44] Ở đây định nghĩa lễ là phần cúng tế, hội là những cuộc vui chơi tập thể.

[45] Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, 2003.

[46] Lễ Đổ Giàn của làng An Thái, Bình Định. Lễ này như sau: người ta thiết lập một sân khấu ngoài trời, diện tích hẹp hơn sân khấu thường, nhưng chiều cao thì gấp nhiều lần, khoảng mười mét, bằng tre, gỗ. Trên đó người ta đặt đàn cúng thần gồm hương, hoa, trà, quả và một heo quay để nguyên con. Sau những nghi thức cúng lễ, vị chủ tế trên giàn cao, phát lệnh nổi 3 hồi chiêng trống, báo hiệu bắt đầu cuộc tranh tài đổ giàn. Trên đài cao, vị chủ tế – thường trước đây cũng là người giỏi võ – bê con heo quay từ trên đàn cúng quay ra phía đám đông bên dưới, rồi dùng cả sức mạnh, tung con heo ra xa. Đó là giây phút căng thẳng nhất sẽ quyết định quà thưởng đó rơi vào tay ai. Các võ sĩ tài nghệ cao, phi thân lên đón lấy con heo từ trên cao, nhưng rồi phải luồn lách, lao ra khỏi đám đông, mang con heo quay chạy về địa điểm an toàn đã định. Trong lúc giành giật những người tham gia được phép trỗ hết các tuyệt kỷ của xứ võ này để tranh tài. Theo tục lệ con heo quay sau đó được đem xẻ ra để khao chung cho tất cả những võ sĩ cùng có mặt trong cuộc tranh tài này, chứ không thuộc riêng nhóm giành được. Những người giành được phần thắng chỉ được mọi người hoan nghênht và họ tin rằng năm ấy họ sẽ gặp hên vì được “lộc của thần“.

[47] Võ ca: 武旮; là một gian phòng trống, nằm ở góc ngoài (ca: góc, xó) của một ngôi đình ở Miền Nam dùng làm sân khấu hát bội trong các dịp lễ hội. diễn các tuồng tich khi đình có lễ hội. Chẳng hạn như lễ Kỳ yên luôn có mục ‘xây chầu và hát bội’; mục này được diễn ở võ ca. Võ ca chính là cái nôi của ca kịch cải lương nói ở phần sau.

[48] Các lễ hội ở làng Miền Bắc thường có những lễ rước thần, diễn xướng thần tích thành hoàng. Như làng Lệ Mật có lễ hội múa rắn, lễ cướp pháp Kỳ Lừa, kễ hội Chạy Lợn làng Duyên Yết – Hà Nội, … Ai đó có thể nêu lễ hội cúng Bà Chúa Xứ Châu Đốc cũng có lễ rước Bà qua Lăng Thoại Ngọc Hầu rồi rước chư vị về lại miếu. Nhưng xét chi cùng lễ này không thể có sớm hơn thời Thoại Ngọc Hầu đào kinh Vĩnh Tế, nói khác đi có sự du nhập văn hóa Miền Trung vào. Còn trước đó tập quán sơ khai của dân Miền Nam không có tục này, hơn nữa lễ cúng Bà Chúa Xứ đã không còn là phạm vi làng xã, trở thành lễ hội cả vùng.

[49] Hiện nay người ta thờ Tống Hữu Định, bút hiệu Tịnh Trai, làm tổ nghề hát cải lương. Ông thường được gọi là Thầy Phó Mười Hai – gọi Thầy Phó vì ông từng làm Phó Tổng đất Vãng (sau đổi thành tỉnh Vĩnh Long) và gọi Mười Hai là theo hạng thứ trong gia đình. Ông sanh năm 1896 tại làng Long Châu, Vĩnh Long và mất năm 1932.

[50] Hương ước ở Miền Bắc có từ rất lâu, bản thành văn cổ nhất có niên đại thế kỷ 15, còn trước nữa bị thất lạc hay không thành văn. Hương ước ở Miền Nam chỉ bắt đầu có vào đầu thế kỷ 20 chiếu theo một nghị định của chính quyền Pháp. Hương ước Miền Nam làm theo một mẫu quy định và phải được chính quyền phê chuẩn.

[51] Khi khảo sát địa bạ của 92 thôn xã có ruộng đất tư nằm rải đều trong 8 tổng, thuộc 6 tỉnh Nam Kỳ đầu thế kỷ XIX, Trần Thị Thu Lương phát hiện 76/92 thôn xã đã có hiện tượng phụ canh ruộng đất. Số chủ phụ canh là 1.159 người, chiếm 24,2% số lượng chủ (4.793 người). Diện tích phụ canh là 17.635 mẫu 6 sào, chiếm 28,35% diện tích sở hữu ruộng tư (62.202 mẫu 3 sào). [Trần Thị Thu Lương, Phụ canh ruộng đất giữa các làng Việt ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX, in trong Làng xã ở châu Á và ở Việt Nam, Mạc Đường (chủ biên), NXB Tp.HCM, tr.177-183]

[52] Tổng Kết Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn: Nam Kỳ Lục Tỉnh, Nguyễn Đình Đầu, trang 172.

[53] Cuốn “Écinimie Agricole d’Indochine”, Hanoi 1932.

[54] Như trường hợp “Ở Định Tường, trước kia Tôn Thất Chương để lại 2 thửa ruộng cỏ, từ trước vẫn để cho người tá canh, nửa vời, các điền hộ chuyền tay nhau bán đi; nay khám ra là 50 thửa, mà dấu tích tá canh vẫn còn rõ ràng thì có 6 thửa đạc được 398 mẫu linh, vẫn giao cho chủ trước. Còn 44 thửa đạc thành 359 mẫu linh, thì cho dân nhận lãnh nộp thuế, liệt vào hạng ruộng công.” (Chế Độ Công Điền Công Thổ Ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, Nguyễn Đình Đầu, trang 108). Trong cuốn này tác giả thừa nhận khái niệm của một số nhà nghiện cứu theo hướng Mác-Lê cho rằng “ruộng công là vết tích sót lại của chế độ cộng sản nguyện thủy” là điều không chính xác đối với Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thật ra khái niệm đó chỉ là một số trường hợp cá biệt chứ không phổ quát nếu nghiên cứu về ruộng đất các nước trên thế giới (lưu ý bất cứ dân tộc nào cũng trải qua thời kỳ mà Mác nói là “chế độ cộng sản nguyên thủy).

[55] Ví dụ đình Điều Hòa số 101 đường Trịnh Hoài Đức, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, thờ 4 vị nữ thần mà chẳng ai nói rõ thần tích.

[56] Tác phẩm “Bỉ Vỏ” của nhà văn Nguyên Hồng.

[57] Tuyển tập 26 Truyện Ngắn của nhà văn Sơn Nam. Tập truyện này có những hư vấu phi lý như dùng bơm xe đạp căng phòng da rắn ri voi (chẳng thể nào làm được theo kiểu bơm bong bóng như thế) nhưng chắc chắn phản ảnh khá trung thực nếp nghĩ và lối sống của dân sông nước miệt vườn. Bản thân tác giả là dân xứ ấy và nhiều năm chung sống để quan sát và ghi nhận.

[58] Trong tập truyện “Hương Rừng cà Mau”. Còn Quốc Văn Giáo Khoa Thư là bộ sách 3 cuốn (Đồng Ấu, Dự Bị và Sơ Đẳng) dành cho bậc tiểu học, do cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim soạn cùng Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận. Dựa theo nội dung tì nhà văn Sơn Nam nói đến cuốn Lớp Dự Bị.

[59] Tập truyện Ngắn “Việc Làng” của Ngô Tất Tố, truyện “Một Tiệc Ăn Vạ



 

Một ngày nắng khác

Những gian nhà thông trần quả là hay mách lẻo.

Từ nhà chị vọng sang nhà tôi những  tiếng động lạ: Tiếng gõ mạnh như đang sửa vật gì đó trong nhà, tiếng gõ dứt khoát và có vẻ quyết đoán như chứng tỏ sự hiện diện của đàn ông… Tôi mừng thầm: Thế là nhà chị đã có số chẵn. Chị mấp mé bờ năm mươi…

Rồi tôi quen dần với những hoà âm mới của nhà chị: Tiếng chặt, băm với tần số cao vào những giờ nấu ăn, tiếng lách cách rửa bát lâu hơn như sự tuyên bố công khai về việc nhà chị đang có hơn một người một cách thường xuyên, tiếng hát khe khẽ xen vào chút hạnh phúc gần gũi…

Và khi cả xóm quen với sự xuất hiện của người đàn ông ấy thì bên bể nước các bà chuyên buôn dưa lê bắt đầu đặt ra rất nhiều câu hỏi, thậm chí người ta chẳng cần bóng gió mà hỏi nhau một cách trắng trợn cả khi có chị ở đó. Chị là người sạch sẽ có tiếng trong xóm nên chịu trận nhiều hơn người khác.

Từ khi có người đàn ông chẳng còn thấy chị sang nhà tôi để kể lại những câu chuyện “thời còn trẻ” mà lần kể nào trông chị cũng tươi mới như lần đầu. Chị chỉ sang để lúc thì mượn cuốn sách dạy cắt may quần áo cho nam giới, lúc lại nói sẽ nhờ tôi dạy cách chiết vai áo đàn ông… Chị chạy qua chạy lại nhà tôi nhiều hơn nhưng chẳng mấy khi ngồi, đứng hỏi mấy câu rất nhanh xong, chị vội vã về nhà mình ngay. Trong câu hỏi của chị thường rất nhiều từ đàn ông, nam giới, đám mày râu, cánh ấy… cùng ánh mắt đầy vẻ đồng bọn với vợ chồng tôi.

Chị có vẻ đã sang một giai cấp khác.

Tấm thiếp cưới của chị đã chuyển hẳn nội dung câu chuyện ngoài bể nước.

Chưa bao giờ tôi thấy chị trả lời hóm hỉnh thế khi bị mọi người trêu. Nhiều lúc tôi không nhận ra chị…

Mấy hôm trước đám cưới trời mưa dầm dề làm chị lo lắm vì chị tổ chức tại nhà, không đón đưa gì…

Nhưng hình như ông trời cũng thương chị nên đúng hôm cưới nắng rất đẹp, trời trong và cao xanh….

Chị có vẻ bận rộn lên nhiều từ ngày có thêm một nhân khẩu chính thức. Trông cách chị vui vẻ mà ít hồi hộp hơn, nhanh nhẹn cũng bớt lúng túng hơn so với lúc chưa cưới. Vọng sang nhà tôi cả tiếng chị nũng nịu anh.  Vợ chồng chị thường xuyên ríu rít sang gửi tôi chìa khóa nhà để đi đâu đó vào những ngày nghỉ (tôi không giải thích được tại sao họ phải gửi chìa khoá. Trước đây chị chỉ gửi chìa khóa để về quê vào dịp Tết. Thỉnh thoảng chị lại tặng tôi mấy bông hoa và nói hai nhà cùng có hoa cho vui.

Thế mà người ta cứ bảo tuổi trẻ là thứ không lấy lại được.

Sau vài tuần bỗng không thấy người chồng cùng chị sang gửi khóa, tiếng băm chặt vào những giờ nấu ăn cũng bặt luôn. Nhưng chị vẫn thường xuyên sang tôi gửi chìa khóa nhà vào những ngày nghỉ mà không dặn kèm câu nào. Chị tất bật đi đi về về như người chủ của một gia đình lớn…

Cũng phải thôi, được mấy người đàn bà có gia đình mà ung dung thảnh thơi?!

Với thiên hạ chị đã là người đàn bà bình thường.

Chị đã bước ra khỏi câu chuyện ngoài bể nước, nhưng vào một tối, chị sang và nói muốn hỏi tôi vài việc.

Người đàn ông của chị đã có gia đình. Khi mẹ người ấy ốm nặng, thấy anh có vẻ lo lắng chuyện tiền nong, chị đã đưa anh toàn bộ số tiền trong cuốn sổ tiết kiệm của chị (mặc dù có ít tiền, là người lo xa, chị vẫn phải “chia” ra làm ba cuốn sổ tiết kiệm: Cái đầu tiên dành bố mẹ, cái thứ hai dành cho con, cái cuối cùng mới là của chị. Từ dạo không còn cuốn sổ dành cho mình, chị lại cắm cúi lo kiếm tiền không biết đến ngày tháng. Bây giờ con trai anh lại phải mổ, anh thì lúng túng… Chị phân vân và muốn biết ý tôi thế nào.

Quá bất ngờ, lại không muốn hỏi thêm một cách bất nhã, tôi đành chọn phương án bớt áp đặt chị mà tôi thường dùng cho mình lúc đắn đo để trả lời chị: Làm theo cách mình cảm thấy ít khổ nhất …

Chị về rồi mà những điều chị nói không chịu theo chị, cứ quanh quất bên tôi…

Rồi bố mẹ chị lần lượt qua đời trong vòng một năm.

Mỗi lần về quê lo việc hiếu, khi gửi chìa khóa, chị đều nhờ đưa kèm một ít tiền nếu người ấy có về nhà.

Và có vẻ như chị đã không muốn chìa tay ra nhận lại chùm chìa khóa kèm theo cả chỗ tiền vẫn còn nguyên si, những đồng tiền tất bật…

Hình như những đồng tiền sạch lúc nào cũng tất bật…

Những ngày nghỉ không còn thấy chị gửi khoá đều đều như trước đây.

Chẳng còn thấy chị chạy qua chạy lại hỏi những câu hỏi có nhiều từ về đàn ông hay tặng tôi hoa để “hai nhà cắm cho vui”.

Và phải nhìn ổ khóa mới biết chị đi vắng hay ở nhà.

Tôi buột miệng: “Không được”, khi chị nói chị đã đưa  cho người ấy hết số tiền chị kiếm trong thời gian vừa rồi. Chị có vẻ ngạc nhiên khi nghe hai từ ấy vì xét theo giọng của chị thì những điều chị nói với tôi như chỉ là thông báo, tâm sự chứ không phải kêu ca, than phiền gì. Thế là chị vội vàng thanh minh rằng đấy là chị tự nguyện, rằng anh không đòi hỏi gì, rằng chị rất vui khi được chia sẻ cùng anh…

Im lặng một lúc chị lúng túng thổ lộ với tôi về quan hệ của chị và người ấy.

Chị đã gặp và yêu anh.

Còn anh, anh thương chị nhưng anh nói rõ là anh đã có một gia đình yên ổn.

Chị đã nhờ anh đóng làm chú rể và có mặt ở nhà chị vào ban ngày sau đám cưới hờ một thời gian ngắn. Anh  nhận lời giúp chị sau khi suy nghĩ rất lâu.

Chị nói chị đã có những ngày rất hạnh phúc và chị mong tôi đừng hiểu nhầm người ấy…

Chị yên tâm, tôi chưa bao giờ dám khẳng định là mình đã hiểu thật đúng một người.

Chị đã về hưu.

Dãy nhà của chúng tôi không còn thông trần nữa, các nhà đều lên tầng, nhà chị cũng thế với một tầng rưỡi có sân  cây…

Không thấy chị sang nhà tôi chơi như hồi còn đi làm bận rộn phải “tranh thủ”, cũng chẳng còn thấy chị đi đi về về vội vã…Thỉnh thoảng tôi gặp chị ngoài chợ, trông chị lặng lẽ buồn, chậm rãi uể oải, như không chờ điều gì…

Hôm nay tôi bỗng lại thấy chị hát:

…Vội vã trở về

Hai câu hát bình thường vào lúc ấy nghe khác lạ như có cái rùng mình của số phận…

Có phải chị đã tìm được cái gì khác để bận tâm hồi hộp chờ đợi…

Chẳng hề báo trước, chị  lễ mễ ôm sang bảo gửi tôi nào là tivi, đầu đĩa và cả một chiếc vali có vẻ rất nặng.

Chị nói chị tiếp tục đi tìm đứa con (???) đã bị thất lạc thời chiến tranh mà có thời gian chị và người ấy cũng đã từng đi tìm mà chưa thấy…

Có người bạn tin cho chị biết hình như đã thoáng nhìn thấy nó tại Sài Gòn.

Nói xong chị cám ơn rồi về luôn.

Tôi mừng vì thấy chị lại tất bật hối hả bận rộn.

Ngoài kia trời rất nắng, nhưng tôi cảm giác nắng lần này không giống lần trước…

Biết đâu cái lớn lao của con người chẳng nằm ở chỗ biết tìm ra những cách khác nhau để bắt nắng, để hạnh phúc…

 

(Báo Văn nghệ)

 

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HỘI  NHÀ VĂN VIỆT NAM

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HNVVN – 1

 

 

Thẻ: , ,

Út lanh

Không ngờ bữa nhậu lại vui đến thế. Cả không ngờ nó lại được gầy dựng. Tôi bận, chủ nhà kiêm chức Phó ban phòng chống lụt bão tỉnh, cũng bận. Nước đột ngột lên những căn nhà vượt lũ xây xong không mấy người chịu vô ở, kêu xa ruộng xa kênh ở trển lấy chi ăn? Gọi xuống huyện, nói có nhà báo lên chụp hình từ mấy ngày trước, huyện báo về xã, xã gom mãi cũng chỉ được vài hộ, mỗi hộ 20 ngàn, nếu có đông trẻ con mà lại còn khói bếp nghi ngún nữa thì mỗi con nít 10 ngàn quyết toán vô khoản họp cụm dân cư. Vừa dọn vô, đã hỏi nhà báo đâu, chụp hình nhanh nhanh để còn về ruộng gặt, nước lút lúa rồi kìa. Thì hình đã chụp, số báo ngày mai tỉnh đã căn bản hoàn thành chương trình nhà vượt lũ, có thể còn nèo thêm được dự án tạo việc làm cho các nông hộ từ nay thành người thị tứ, các bà vợ mặc bộ đồ hoa mỏng, ra ra vô vô buồn tênh thế, có khi còn sinh chuyện bởi mấy ông chồng đã theo xáng cạp đi tôn nền vượt lũ mãi rừng xanh núi đỏ nào. Chúng tôi đã chào nhau, nhưng ông phòng chống sau khi dúi vô túi tôi cái phong thơ chút xíu bữa  ăn trưa hình như cảm thấy không yên, đúng rồi, nó mỏng hều nếu so với độ cao hơn mười thước tôn nền mà bụi cỏ dưới đầm còn thoi thóp ngó thấy, không lẽ cỏ xứ này cao hơn mười mấy thước Tây? Ông phòng chống kéo tay, ẩy vai tôi sang bên kia cầu vồng, vô quán nhậu còn có nhiều cầu vồng nữa vắt sang các lều lá dừa nước đang lách tách mưa rơi bởi con cá chép mới hoá rồng xong liền hăng hái phun mưa kẻo người ta cứ tưởng mình còn là cá. Ông phòng chống rất tài, chỉ sau mấy cái bấm bấm mà bẩy tám người hớt hải chạy đến. Mà không chỉ một ông tài. Có mấy người nữa cũng chỉ bấm bấm mấy cái, mà người ở đâu đổ ra ngần ngật, loáng cái đã chật những cái lều quán lá dừa nước. Khăn ướp đá cứng vậy mà họ đập vỡ bôm bốp, tài thật. Lẩu cá linh đầu mùa, ngon rồi, khỏi nói. Li chào mâm, li giới thiệu chủ nhà với khách, li phạt vì chưa uống hết, khỏi nói. Cũng khỏi nói li hết lòng với anh Hai với chị Ba, hay hết lòng với những ai ai nữa, bao nhiêu là người, nhớ sao nổi, thì cứ dô dô đều đều, đúng quy củ hiện hành. Chén đĩa còn ngổn ngang, khói thuốc đang sặc sụa nhưng ai đó đã gọi nhà hàng mang mic ra và lập tức sông nước rền vang những tiếng hát. Ông phòng chống mặt đã hết đỏ, dần tái đi nhưng các lệnh ban của ông em út vẫn răm rắp dô. Em út đây là gồm cả tôi, người ta cứ kêu báo giới là đệ tứ quyền, dóc. Tôi giật mic, hát Tình ca, hát Vàm cỏ Đông, hát Tiểu đoàn ba lẻ bảy, đến câu anh lên xe trời đổ cơn mưa thì còn tạm được, chữ bôi xanh chỉ chậm hơn tôi có nửa phút, chứ em xuống núi nắng vàng thì không thể rực rỡ nổi. Hình như tôi ngô nghê cười, giữa tràng vỗ tay hay quá. Từ ngày các ca sĩ hay xin các bạn một tràng vỗ tay, thì trình độ vỗ tay của xứ này quả có đều hơn, dễ tính hơn. Cũng còn bởi đông nữa, nói giọng bà xã tôi, xứ này thật là vựa người. Tức cười, chỉ có mấy cái bấm bấm, tuyệt nhiên không nói câu gì, không ai nói câu gì mà người đâu túa ra đông dữ, tài thật. Rồi lách tách mưa rơi, lại rơi, dù có thấy ai bấm bấm đâu. Hình như ông phòng chống nói câu gì, tôi thấy ai đó dìu tôi, rắn rỏi rồi mềm mềm. Tôi dặt dẹo mãi rồi cũng bước vô được căn phòng làm bằng mùi son phấn rẻ tiền, khi tiếng chốt cửa xạch một cái thì sực lên thêm mùi dầu gội. Tôi say hơi nhanh, tệ thật, hồi này xuống sức vậy sao? Ngoài kia đang dô dô ầm ầm náo nhiệt, riêng tôi thì buồn, thật buồn. Cả buổi chiều nay và có thể còn mai kia, thầy trò ông phòng chống còn nói về cái “chết” này, họ tranh công với sếp vì li của họ mà tôi gục hẳn. Nhưng còn buồn hơn là da thịt con gái người ta mâng mẩng thế này mà mình thì đang lử lả, lại còn không biết ngượng. Dầu Gội lần lượt tháo đồ của tôi, như tôi cứ thản nhiên lấy máy ảnh ra khỏi túi đồ nghề, chưa biết ai thành thạo hơn ai. Đọc ở đâu ấy nhỉ, rằng khi người ta không còn biết ngượng về sự khoả thân trong tình trạng tê liệt trước kẻ lạ mặt, thì tức là đã hỏng. Thì đã hẳn, chỉ không biết là hỏng từ bao giờ. Dầu Gội lấy chai dầu gió, thoa nhẹ lòng bàn chân, hai bên thái dương, vỗ nhẹ cái mông trần khen còn rắn, rồi dìu tôi vô phòng xông hơi. Mùi sả hương nhu gừng lan toả cùng hơi nóng lay thấm vô nội tạng, thúc mồ hôi xả ra rồi lần hồi ý nghĩ trở lại, dù còn chậm chạp và nửa vời.

Tôi thả lỏng mình trong tình trạng lười nhác, cứ bấm chuông gọi Dầu Gội tuy mới đang xả nước. Dầu gội vừa hát một câu bậy bạ vừa dùng khăn lau người cho tôi và rồi gần như dìu tôi lên giường. Đúng là làm nghề nào quen nghề ấy, nom cô gái chỉ bốn chục kí mà nửa xách nửa vác kẻ bảy chục kí ngon ơ. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kĩ Dầu Gội, chừng hai mươi tuổi, có dáng cao ráo, son phấn chưa xoá hết nét quê dù có vẻ như cô ta ra mặt đoạn tuyệt, phủ ngoài ngón tay chân có lẽ còn ngấn phèn là một lớp sơn tím lịm. Cố nhiên không phải tên cô như thế, sao lại tên như thế được, nhưng tính tôi không muốn hỏi tên những người như cô. Hỏi để thành ra Hương Hoa Lan Tuyết cho nó thêm rách việc. Đã biết tên, ắt phải hỏi quê quán. Biết quê quán rồi, thì lại phải hỏi vì sao em bỏ quê đi làm nghề này. Không hỏi thì thôi, hỏi thì lại phải nghe chuyện tình đời ngang trái, nhà nghèo bệnh trọng. Tôi chán nghe những chuyện buồn, vì nghe mà không có cách gì giúp được, thì hoá ra mình bất lực. Nghe không buồn chẳng hoá ra mình thành người vô cảm? Bề nào mình cũng là người hỏng rồi, ai thèm chấp kẻ đã tự coi là hỏng?  Để em vừa xoa bóp tấm thân mình vừa ê a hát cho cái tai mình được mơn trớn, nó dễ chịu hơn nhiều. Hình như Dầu Gội vô nghề đã lâu, biết làm đủ các thao tác, đấm bóp liên tục mà ít mất sức, lại khiến cho khách dễ chịu. Nhưng, sự dễ chịu có quy luật của nó, cái thằng mất dạy hồi tỉnh dần, nó cũng đòi được bình đẳng với các kinh huyệt khác trên thân thể tôi. Tôi  biết là cần nói mấy lời giống như tình yêu, một tập hợp những lời biện hộ cho vấn đề không phải là mua bán dâm, không phải vi phạm đạo đức hay quy chế nhà hàng cấm nhân viên bậy bạ. Còn Dầu Gội thì cũng không kém, cô nói cô không phải là gái, anh thèm quá thì em chiều thôi, nhưng mà còn bảo vệ, còn mấy đứa nó thấy thì sao. Tóm lại là, tuy em không nói thành lời, nhưng tôi hiểu rất rõ rằng tôi phải cho em nhiều tiền, rất nhiều tiền, thì mới đủ trang trải. Thấy tôi là người mau hiểu, Dầu Gội khinh khích cười.

Dầu Gội tuy vậy mà thiếu kinh nghiệm với đàn ông, em không biết rằng cái vẻ tình yêu không tính tiền của em lại khiến tôi thêm bẽ bàng, khi lật nghiêng xuống giường và hồi chuông báo hết giờ chợt reo lên gay gắt và minh bạch. Tôi hoàn toàn trống rỗng như vẫn thường trong những lần như thế. Không trọng lượng, không tư duy, không cả kí ức. Một giấc ngủ sẽ vùi tôi vào bóng đêm không phán xét đã không thể đến, tiếng chuông hết giờ còn ngân, Dầu Gội cũng đã giục. Tôi không nhìn, chỉ khoát tay ra hiệu cho cô ta tự lấy cái phong thơ hồi nãy ông phó ban phòng chống dúi vô. Vậy đó, bà xã tôi có lí, tiền bạc không tự nhiên sinh ra, cũng không tự nhiên biến đi, nó chỉ đi từ túi người này sang túi kẻ khác và giữ nguyên giá trị. Tôi thấy Dầu Gội mở phong thơ, thản nhiên nhét tiền vô ngực, không có dấu hiệu mừng húm hay chê ít. Như vậy là cái bao thơ vừa đúng giá, tôi chua chát nghĩ.

– ủa, anh dậy mặc đồ vô chớ, hết giờ lâu rồi.

Thế là ngay cả sự chua chát cũng không đi đến tận cùng, nó đã bị cô gái mới đó còn ghì chặt lấy tôi cắt ngang. Tôi mặc nhanh quần áo, soi vào gương, cười một cái cho trạng thái trở lại có chút hồn cốt và bước ra ngoài. Làn gió từ bến sông ùa tới, lay tôi tỉnh hẳn lại và biết mình đang khát. Tôi sà đến chỗ mấy em đang ngồi xúm nhau trên giường bói bài. Kì thật, khi nãy tôi không thấy một ai, bây giờ các cô em xanh xanh đỏ đỏ ở đâu túa ra đông dữ; họ gần như chồng đống lên nhau, đúng là vựa người. Dầu Gội nháy mắt cười, rót cho tôi li trà dắt tôi đến cái ghế bố rồi em cũng ngồi xuống cạnh tôi, trên cái tay ngai, nhưng nét mặt bình thản như giữa chúng tôi chưa hề có chuyện gì xảy ra. Bây giờ tôi mới thấy cô ta lớn tuổi hơn, nhưng xinh đẹp hơn là tôi vẫn tưởng, tôi đã trừ bì đi thì đúng hơn, trừ hơi quá tay. Nhất là đôi mắt, nét long lanh đen là thật, không phải hàng giả. Cũng thật như thân thể cô, thon thả, mây mẩy thịt da. Sau lớp son phấn chưa điệu nghệ, nét đồng quê ẩn được trong ánh đèn hồng bây giờ phơi ra rõ rệt. Không hiểu sao tôi thấy cần hỏi em một điều gì và khi cất lời thì lại là chính cái câu mà tôi kiêng hỏi nhất:

– Em quê đâu?

– Em ở dưới Châu Thành…

Châu Thành? Tôi linh cảm và tôi liền hiểu ngay là mình linh cảm đúng.

Tôi hỏi:

– Phải em tên út Lanh không?

– Còn anh là Ký, Ký nhà báo phải hôn?

Lanh nói thế với một thoáng thay đổi rất khó nhận ra trên nét mặt, chứng tỏ em đã nhận ra tôi. Tôi đang tuổi trung niên ít thay đổi, em nhận ra tôi trước là phải. Nhưng em nhận ra tôi từ lúc nào, hi vọng là khi trong phòng massa mọi vật cứ hồng hồng huyền ảo em chưa nhận ra tôi. Như thế có lý hơn. Chứ nếu em đã nhận ra mà em vẫn vô cảm trước hành vi bảy năm trước của tôi? Vô cảm hay đã chai lì, đã “quên đi” như bây giờ đám trẻ hay nói? Vô luận là gì thì nếu như em đã nhận ra tôi, mà em vẫn phẳng lặng thế, thì có nghĩa là niềm căm hận trong em thật là khủng khiếp. Em, mảnh quá khứ êm đềm như con sông quê vẫn chảy trong kí ức tôi hoá ra đã vơi cạn. Em, cơ hội đổi đời sống nhớp nhúa buồn nôn lấy tình yêu và hạnh phúc của đời tôi, mà tôi đã hèn nhát để buột mất. Tôi càng hốt hoảng vì em không hề biểu lộ giận dữ, khinh khi gì; em bỗng trở nên bí ẩn và làm tôi bất yên. Nhưng tôi không có cớ gì nán lại, em đã có khách, em đã bước vô căn phòng giờ đã thành của người đàn ông còn khú đế hơn tôi. Lão ta béo ú, những tảng thịt rung rinh theo bước chuyển động của lối đi hai hàng vì béo quá; hệt như bà vợ tôi, ngồi đẫy một sa lông bố. Nhưng cái chính là lão ta sẽ gọi em là gì là quyền ở lão, trời ơi!

Tôi bắt xe đò trở lại Châu Thành. Mùa nước nổi. Chúng tôi đi làm phóng sự mùa lũ, tôi và một cậu phóng viên tập sự cùng mấy cán bộ phòng chống lụt bão huyện ngồi trên chiếc bo bo lướt băng băng trên sông Hậu. Nước đã dâng ngập đồng, những bụi tre, những vườn cây cũng ngang lưng nước; sóng nước được cái bo bo cao tốc tạo ra đã dập dờn vô đồng, xa tít. Chạy suốt ngày chỉ thấy có bấy nhiêu, đói thì ăn bánh mì kẹp chả, uống bia 333, khát thì nước Lave uống thả dàn, chúng chất đầy cả khoang lái. Cậu phóng viên tập sự lo lắng ra mặt, chỉ những nước là nước, lấy đâu ra một nghìn chữ với vài bức ảnh?  Đợt thực tập này cậu còn thiếu bài, cậu chưa học được cách biến các bản báo cáo thành bài phóng sự nóng hổi. Hồi ấy tôi còn hay mủi lòng, hoặc có thể chính tôi cũng thấy chán kiểu ngồi bo bo, uống bia mà chống lụt bão; nên chiều hôm ấy, tôi xin huyện thuê cho một cái ghe tam bản và chúng tôi lừng chừng vô sâu trong đồng. Dọc con kênh nhỏ mà chúng tôi nhận ra qua hai hàng bạch đàn ngập nước, ngọn phất phơ anh ánh bạc dưới nắng chiều; nhận ra những chòm ấp mái lá xoà trên nước, từng đàn vịt co cụm dưới tán cây, những đứa trẻ nghịch nước da nhăn vì lạnh mà hàm răng cười loá nắng. Một mùa lũ thanh bình. Chợt chúng tôi cùng reo lên, phía trước là một chiếc ghe tam bản, với những hai người con gái, cô chị khoả khoả mái chèo cho ghe khỏi lật, còn cô em đang cố rướn người hái bông điên điển, nửa thân người trên của cô gái nghiêng hẳn khỏi ghe. Cả hai cùng khúc khích cười vì một chuyện gì đó. Cậu tập sự quên phắt bài phóng sự, hối anh lái ghe tấp vô, anh lái chừng cũng mất bình tĩnh trước đôi chân trần làm trắng cả buổi chiều, làm hai cái ghe xô mạnh vào nhau, cô em sẵn thế nghiêng người hái hoa liền rơi tòm xuống nước. Cậu tập sự nhảy xuống cùng lúc với cô chị nhảy xuống vớt cô em nên tôi có cớ nhảy xuống vớt cô. Chúng tôi lặn ngụp luẩn quẩn một lúc thì hoá ra tôi vớt được cô em còn cậu tập sự thì ôm được cô chị. Sau khi cô em bám được thành ghe, tôi còn bơi theo đám bông điên điển trôi dập dờn gần đó. Mọi việc xong xuôi, thấy chị em họ chuẩn bị bơi về, tôi buông một câu ỡm ờ:

– Nhảy xuống vớt người chết đuối mà không được một lời cám ơn sao?

Cô chị chợt đỏ mặt:

– Bày đặt ra thì ướt ráng chịu nha!

Rồi cười mà tha thướt chèo chiếc ghe đi. Nghĩ sao đó, cô em ngoái lại:

– Nhà tụi em kìa, mấy anh vô hong quần áo cho khô còn dìa kẻo tối.

Lời mời chỉ là đùa trêu, nhưng chúng tôi cứ mặt dày mà bơi theo chị em họ. Mặt trời đã xuống thấp lắm, ánh nắng lăn tăn trên đồng nước lênh láng vàng, như tấm chài khổng lồ ai đó đang kéo lên rất nhanh, những mắt lưới vàng rụng xuống rồi tắt ngấm.

Cha mẹ của họ là những người hiếu khách. Có thể còn vì nước đã ngăn cách xóm ấp thành các ốc đảo, khiến ông già ham chuyện ngó thấy chúng tôi mừng như bắt được vàng. Ông bắt chúng tôi thay đồ, mặc quần xà lỏn của ông, bắt con gái giặt đồ ướt rồi mang hong ngoài ngọn tre, bảo bà vợ cho thêm cá linh vô nồi canh đang sôi ùng ục trên bếp còn ông thì tự  cho phép mình đi mua thêm rượu đế mà không cần ai bảo. Căn nhà chỉ gồm mấy cây bạch đàn chôn thẳng xuống đất, vách thưng lá dừa nước, dứng buộc sơ sài. Nơi chúng tôi ngồi là gác lửng, do những cây bạch đàn còn tươi buộc ngang các cây cột, khoả chân xuống là gặp nước. Một chiếc võng bạt đã bạc phếch, vệt  mồ hôi lưu cữu hằn rõ cơ bắp người nằm. Lúc nãy vô nhà là cái ghe chui qua cửa, khách từ ghe bước thẳng lên gác còn ông chủ nhà ngồi trên võng ư ử hát Lục Vân Tiên. Mấy chiếc quần áo vắt quanh dứng, có cái chấm nước. Trên đó là mấy tấm ảnh quảng cáo Coca Cola, ô mô, mấy tờ lịch do Hội Cựu chiến binh kính biếu, năm 1995 là biệt thự ô tô sang trọng, năm 1996 phong cảnh làng quê Thái Lan thanh bình, năm 1997 là hai cô gái áo dài một xanh một đỏ nhưng đều đội khăn tầng cô dâu. Phía trên nữa, mấy tấm ảnh cỡ to, có chân dung một nhà lãnh đạo kèm chữ kí của chính ông, đã ít nhiều khó đọc, nhưng vẫn còn có thể hiểu mấy chữ đó có nghĩa là tặng Ba Hơn để nhớ mãi những năm ở rừng. Rượu đã ngà ngà, tôi hỏi thì biết là đúng ông Ba Hơn đã làm liên lạc, kiêm cần vụ cho người trong ảnh. Hỏi sao không được thưởng Huân chương, nói là không thấy ai bảo làm, mà làm chi cho mất công. ờ, Huân chương có tiền, nhưng tui được cho tiền hoài à, khi còn sống, ổng cho, năm nào cũng cho. ổng chết rồi thì nghỉ cho luôn. Nhiều không à? Bộn bộn đó, ổng biết mình thích rượu mà. Có bữa bom nổ đùng đoàng, đang ăn cơm, tui cõng ổng ra hầm còn chạy vô ẵm chai rượu tây đám trong thành mới biếu. ổng cười khà khà, khui luôn, thầy tu một hơi, tớ một hơi, riết cũng hết luôn. Rượu ngon dữ, đù má thằng Mẽo, ngó luơ quơ vậy mà xài cái chi cũng ngon. Bà vợ chờ mãi mới có cơ nói, nên cái điều bà nói nó chậm hơn nhịp chung, như kiểu hát Karaoke sai nhạc:

ổng xạo đó mấy chú, xã ấp nói làm đơn, làm kê công tác, có chứng nhận của mấy người thì được Huân chương. Ba nó làm sao đó không trúng, bảo làm lại thì cãi nhau với ấp, cho tới giờ đó.

Ông Ba Hơn hứ một cái, ra vẻ không chấp chuyện đàn bà, khiến bà nổi xung:

– ổng đáp nghĩa riêng, cho ông tiền bao nhiêu ông kêu người uống rượu hết. Còn đây là công Nhà nước trả cho tui, mấy chú bảo ông làm trả tui.

Ba Hơn không kịp ngăn tôi hỏi bà có công gì, thì bà đã ấm ức nói:

– Thì công tui chờ chồng, chờ từ mười bảy đến hai mươi chín, mười hai năm trường y nguyên không mất đi đâu. Đến năm ba mươi, ba con nhỏ ni một hôm đi họp trên rừng về, nói ổng chết, tui khóc, nó ôm tui vỗ về. Cực lắm chớ, mấy chú. Mấy người xa vợ bẩy năm là có Huân chương. Tui xa chồng bấy nhiêu sao không Huân chương?

Ông ba Hơn lúng túng, gắp gắp mấy lần mà không đủ một con cá linh cho vợ, nét mặt như van nài vợ đừng ấm ức nữa. Rồi mượn tích Bùi Kiệm mà xàng xê đôi câu về thói đời, lại mượn Vương Tử Trực mà hát câu nghĩa khí. Tôi gõ thìa làm phách, lại vỗ xuống sàn làm trống cố men theo diễn biến tâm trạng của người hát. Thật khó hình dung bên trong con người khô khỏng, chỉ cặp mắt lem nhem ướt kia lại có thể chứa đựng được nhiều cái trái nghịch nhau đến thế, với các cung bậc xa cách nhau lại đột ngột biến đổi đến thế. Kì lạ nhất là giọng hát chứa đựng cả một cuộc bão giông, nhưng không đổ ập xuống ai cả. Bà vợ chống đũa ngồi nghe, đôi lúc còn lắc lư người theo điệu hát, như bị thôi miên. Đêm đã về khuya, trăng suông mùa nước ầng ậng mây xám, khiến ánh vàng nhợt như nhũ phai. Đồng khuya rầm rì oàm oạp sóng, những con sóng như đã cuốn được vào lòng đồng, lại như cuốn được vào vòm trời những câu vọng cổ có thể bảo là hào sảng lại cũng có thể bảo là ảo não.

Cậu tập sự theo ghe về huyện làm phóng sự gửi về toà soạn cho kịp số báo ra ngày mai, còn tôi thì bị ông Ba Hơn giữ lại, nói là để mai chụp cho vợ chồng cha con ông bức hình.

Nhưng chừng ghe đã đi xa, ông nói:

– Mai chú ráng làm giúp tui bản kê công tác, để bả thôi cằn nhằn, mệt. Chớ hổng có chụp hình, chụp chi, hử?

Ông xếp tôi nằm trên chiếc võng mà tôi chắc hơn ba mươi năm qua nó chưa hề được giặt. Tôi tưởng mình say, có thể ngủ ngay nhưng hoá ra cái mùi mồ hôi lưu cữu là không thể xem thường. Lại thêm muỗi bay ràn rạt qua mặt. Nhà chỉ có một cái sàn, bốn người nằm đã chật. Vì vậy lấy cớ muỗi, tôi xuống ghe bơi ra đồng mà ngắm trăng suông, hình dung lại cảm giác ôm được ngực cô gái mà bây giờ tôi đã biết tên cô là Lanh. Nước lạnh nhưng thân thể cô thì ấm và mềm, nó cứ ấm mềm suốt, khiến tôi náo nức thâu đêm.

Lanh dậy sớm, trước cả chị Nhẹn, nhìn thấy tôi lập tức má cô ửng đỏ. Lanh đã nấu xong nước sôi, đã úp xong hai bát mì tôm,  còn đập vô mỗi bát hai hột gà. Nhưng khi ông Ba Hơn ngủ dậy thì kêu dẹp bỏ ba cái đồ thành phố. Ông sai con gái bắt vịt, làm cơm. Ngó thấy Lanh phụng phịu, tôi nói thôi, nhưng ông không chịu. Thật lạ là hai chị em sau đó bắt vịt rất thật lòng, đàn vịt bơi tứ tán, chị một đằng em một nẻo, khi Lanh tóm được con vịt thì đôi mắt đen ánh lên một nét tươi trẻ lạ lùng. Trong lúc tôi băm thịt cho ông đánh tiết canh, chợt ông nói:

– Mầy bảo tao xử sao bây giờ? Con Nhẹn có thằng hỏi, về phía họ tao nó không hơi hướng chi; nhưng về phía cha con Nhẹn, nó lại là cháu kêu con Nhẹn là dì. Bây tính làm sao?

– Cháu mấy đời?

– Mầy nói luật hả? Luật thì không cấm, nhưng xóm ấp mấy ông già cổ hủ lắm. Lo mấy cha nói tao biết mà không ngăn, xỏ lá thằng cha nó, để dì cháu nó lấy lộn nhau, kì!

Tôi nói hổng có sao. Nhưng ông Ba Hơn đã quay sang chuyện khác:

– Tao nói bây ở lại giúp tao làm ba cái hồ sơ Huân chương hả, dẹp, kì lắm. Mầy biết ai duyệt hồ sơ Huân chương không? Nó là thằng ba con Nhẹn đó. Tao đi đánh giặc, nó ở nhà lừa vợ tao, có con với nhau không dám nhận. Bây giờ nó ngồi đó mà hạch tao thiếu cái này cái nọ, mầy nghĩ coi được không? Dẹp!

– Vậy bác nói cháu ở lại làm gì?

– Để tao nói cho mầy nghe chuyện tréo ngoe đó. Không nói ra được, nó ấm ức lắm. Nói ở xóm ấp đây thì tội bả, tội con Nhẹn. Mầy có chữ, tao nói với mầy được, là coi như huề. Chứ thua, tức chịu không thấu.

ăn sáng xong thì mặt trời đã lên cao, xóm ấp Ghềnh Xáng của họ trở nên biếc xanh dưới nắng. Tôi chụp ảnh họ, chụp chung cả nhà rồi riêng từng người. Tôi cố gắng chụp cho ra cái tâm trạng, tính cách ông Ba Hơn, nhưng không được. Ông đã trở nên hiền khô, lại còn hơi ngượng nghịu nữa, vì phải cố cho tươi tỉnh – những người con của ông muốn thế.

Lanh đưa tôi về huyện, chính ông Ba Hơn muốn thế. Ông nói để con Nhẹn đi, thằng kia nó nghĩ có chuyện ba láp. Ông không biết rằng mọi chuyện bi đát của con gái ông đều từ đó mà ra. Hay nói chính xác hơn, đều từ chỗ ông quá tin vào kẻ có chữ, là tôi. Trên cái ghe tam bản, trời nước mênh mông, ở giữa chỉ có một kẻ đa tình đang chán cảnh sống xôi thịt ngoài thành phố với người đàn bà béo hú, khinh người có chữ như cỏ rác, với một thôn nữ da thịt còn mơi mởi đầu óc còn trắng nguyên. Không nhớ rõ tôi đã nói những gì, hình như tôi chỉ mê mải ngắm Lanh và mải mê chụp ảnh. Tôi chụp em lái ghe dáng nghiêng, tóc bay, tà áo bay. Tôi chụp em ngồi bó gối tư lự, đôi mắt đen ánh lên trời xa. Tôi chụp cận cảnh gương mặt đang xao xuyến với đôi mắt đen náo nức.

Chúng tôi đã nói với nhau nhiều chuyện. Lanh biết vợ tôi bán thịt lợn, đó là kết quả tính cách muốn một cuộc sống dễ chịu hơn hoàn cảnh mình có, của tôi. Lanh cũng biết tôi có thằng con nghiện, nó rước về một con bé cũng nghiện. Chúng, mẹ nó và nó cùng con bạn nó khiến căn hộ chúng tôi không mấy khi yên ổn, nhưng khi yên ổn, thì lại rặt chuyện coi đạo lí như cỏ rác; vựa người là bần tiện, bất nhân, khôn thì lừa được người, dại thì bị người lừa; những chuyện hay ho, những gương tử tế được phô ra là để chuẩn bị lừa ai đó, lừa một cái gì đó. Lanh cũng biết cuộc sống của tôi phần lớn ở ngoài đường, ở ngoài quán bia với rất ít thời gian ở cơ quan. Lanh đã rơm rớm nước mắt và khi tôi ôm em vào lòng thì em ôm riết lấy tôi. Vậy là đã bảy năm trôi qua. Bảy năm rồi hơn một trăm kiểu ảnh kĩ thuật số bị đập nát. Tình yêu là thứ dễ nhận ra, thô lỗ và lý tài đến như vợ tôi nhìn thoáng qua là biết, lạ thật. Bảy năm rồi em bối rối báo tin thai. Bảy năm rồi tôi đưa em vô bệnh viện rồi đưa em ra bến xe đò. Trời ơi, có thể bảy năm qua em đã không đi hết chuyến xe đưa em về Ghềnh Xáng, có thể lắm, em đã thành thạo đến thế, chai lì đến thế. Tôi phải về Ghềnh Xáng, phải dò cho đích xác…

Nhưng, hình như xe đang vô Sài Gòn? Sài Gòn thật rồi, trên tấm kính xe cái biển Sài Gòn – Châu Thành vẫn còn nguyên, bác tài vẫn chưa nhận thấy mình quên. Nhưng hình như không chỉ một bác ta nhầm, tôi biết con người thật của mình mà. Thậm chí, ngày mai, bài báo cụm dân cư vượt lũ vẫn sẽ có mặt ở nơi mà người xếp trang đã dành cho nó .

 

(Báo Văn nghệ)

 

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HỘI  NHÀ VĂN VIỆT NAM

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HNVVN – 1

 

 

 

Thẻ: , , , ,

Dưới bóng đời xanh lá

Khi mặt đất ẩm sương mờ mịt màu đêm và bảng lảng khí âm vừa choàng tỉnh, hai nhân vật chính của truyện ngắn này đã yên vị từ lúc nào trên hai chiếc ghế nhựa xỉn màu đối diện nhau nơi quán cà phê Bằng Lăng, cái quán xộc xệch và khiêm nhường bên một con phố lổn nhổn đất đá và gạch vụn của thị xã tỉnh lị. Đó là hai ông già. Một cao to vạm vỡ, tóc phau phau trắng, tiếng nói như sấm rền. Một nhỏ thó, da đen nhẻm, phát âm rời rạc như đang nói thầm trong họng. Đã ba mươi năm nay, từ khi thị xã được giải phóng, không sót một ngày nào, nắng cũng như mưa, hai ông già như dính vào nhau, cái nết ngồi nhâm nhi cà phê tại cái quán nhỏ tồi tàn nhưng đầy ma lực ấy từ lúc trời chưa kịp sáng cho tới tầm chín mười giờ. Họ ngồi rủ rỉ rù rì đủ thứ chuyện trên đời, kể cả những chuyện lặp đi lặp lại mỗi ngày và cả những chuyện tinh khôi mà một trong hai người vừa biết. Họ xưng hô với nhau bằng cặp đại từ nhân xưng tiếng Pháp mà lâu rồi không ai còn dùng đến. Họ đã gần tuổi bảy mươi nhưng sức khỏe và trí tuệ dường như vẫn còn dẻo dai và minh mẫn lắm. Ông già cao lớn vốn là một sĩ quan quân giải phóng, thương binh loại hai, về hưu ngay sau ngày đất nước độc lập. Ông già nhỏ con nguyên là thượng sĩ “mốc” ngụy quân, chỉ đi học tập cải tạo một tuần là được về sum họp với vợ con. Họ là đôi bạn chí thân từ thuở thiếu thời, lúc học trường Pháp, cho đến khi mỗi người do trời đất xui khiến hay do số phận an bài mà đi theo một ngả binh nghiệp.

– Cái trưa ngày ba mươi tháng Tư ấy, toa trốn ở xó nào? – Ông già tóc trắng hỏi, mắt nhìn về vòm trời đang sáng dần, câu hỏi quen thuộc như một lối tu từ trong văn phạm tiếng Việt mà ông đã hỏi bạn mình ba mươi năm nay mỗi dịp kỉ niệm ngày trọng đại này.

Không ngước mặt lên, ông già đen nhẻm thầm thì như đang học thuộc lòng bài văn mẫu:

– Moa nằm dưới gầm giường đẻ của vợ, tay chân như đang lên cơn pa-king-xơn, nhìn thấy toa súng đạn đầy người, mừng và sợ đến phát khóc, muốn lao ra ôm chầm lấy thằng bạn cố tri mà…

Nhấp ngụm cà phê, mắt vẫn không đổi hướng nhìn, người sĩ quan giải phóng quân năm nào nói loa rền:

– Toa mà ló mặt ra lúc đó thì khó xử thiệt! Đằng sau moa là cả một đoàn đang hừng hực lòng căm thù và khí thế thắng trận… Một tiểu đoàn vào được thị xã chỉ còn lại hơn nửa quân số. Đồng đội tụi này nằm lại trên đường tiến công quá nhiều…

– Cái quyết định trình diện toa với tư cách Trưởng ban quân quản là một quyết định khó ăn nhất trong đời moa, hơn cả cái quyết định chọn hướng lập thân bằng cách vào lính thuở nào… – Vẫn nhìn chằm vào li cà phê đặc quánh, vị thượng sĩ ngụy ngày ấy nhỏ nhẹ.

Mặt trời đột ngột chui ra khỏi ngọn rặng dừa phía bờ sông, ban thứ ánh sáng đầy hứng khởi được cất giấu qua đêm xuống chỗ hai ông già ngồi. Nhờ ánh mặt trời mà vẻ phúc hậu của ông già cao to và nét hiền từ của ông già nhỏ con mới hiện lên ngời ngợi giữa cái quán cà phê tuềnh toàng ấy. Không gian bỗng sinh động hẳn bởi sự xuất hiện của cô hàng với gương mặt không thật xinh nhưng ưa nhìn và nhất là với bộ váy áo tân thời cô khoác trên người thoảng lên mùi thơm nước hoa hay mùi hương lạ trời đất ban tặng cho những cô gái trẻ.

– Hương của tụi mình thuở đó giờ nghe đâu định cư ở Hoa Kì. Lạ thật, không thể hiểu nổi vì sao hồi ấy, Hương lại yêu toa và từ chối moa. Toa xấu trai, ít tài hơn moa và vụng về nữa…Ha…ha…ha…

– Nhưng moa chỉ yêu mụ đàn bà xấu xí, quê mùa, sau này thành mẹ sáu thằng con trai của moa thôi! Hương căm moa, trả thù dữ dội bằng cách lao vào vũ trường. Bi kịch! Nhưng nếu moa và Hương lấy nhau, có lẽ cuộc đời sau đó còn bi kịch hơn…

Mặt trời vươn lên tầm cây sào. Gió tây nam bắt đầu gợi trong không trung những luồng sóng nhẹ nhàng, mơn man. Ngoài công viên, những người tập thể dục và đi bộ muộn nhất cũng đã lục tục ra về. Đổi hướng nhìn về phía những ngọn đèn đường tắt muộn do sự lơ đễnh của người cúp cầu dao hay sự cố ý của sự sống muốn tăng thêm chút ánh sáng nhân tạo cho ban ngày khi phải vượt qua một đêm dài đầy màu đen và sự im lặng, ông già có thanh quản khoẻ, bỗng nhiên dịu giọng:

– Toa xem đài truyền hình quay cảnh thả diều công viên chưa? Đẹp, phơi phới! Nơi mấy cái ngọn đồi nhân tạo là chỗ ngày ba mươi tháng Tư, tụi moa ém quân chờ xung phong. Một quả pháo địch rơi vào đội hình, thêm mấy chiến sĩ hi sinh trước thềm hoà bình. Cứ ngỡ những cánh diều bay lên chính là linh hồn của anh em mà ứa nước mắt…

Ông già phát âm như nói thầm ngước cặp mắt hiền từ theo hướng nhìn của bạn mình, rành rọt bảo:

– Cái dòng tên ghép bằng đồng bị gỡ, công viên thành công iên, nhìn thấy chướng, tức muốn nổ con mắt! Hoà bình ngăn nắp rồi, ba cái thứ phá hoại ấy cũng là giặc phải không toa ?

ánh nắng giao mùa Xuân Hạ giữa buổi sáng phương Nam đã bắt đầu thổi nhiệt độ nóng dần lên trên con số ba mươi. Li cà phê đã chuyển sang li trà quạu. Ông già từng là hạ sĩ quan cấp phát quân trang bên kia chiến tuyến nở một nụ cười :

– Cũng may cho moa, là lính, nhưng chưa hề bắn một phát đạn nào nơi chiến trận. Có phải vì thế mà toa chỉ cải tạo moa có bảy ngày? Hay vì moa là bạn nối khố một thời của toa?

Ông già từng giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng bên này chiến tuyến, từng bị đạn M.79 của Mỹ găm vào người, vươn bàn tay qua chiếc bàn nhỏ, đặt nhẹ lên vai người đối diện:

– Không! Không hề có chuyện bảo lãnh, ô dù! Thời ấy, đâu đó rạch ròi! Toa đi học tập một tuần là còn nhiều hơn một số đối tượng tương tự. Chính moa muốn như vậy. Đó là khoảng thời gian cần thiết để toa định thần và nhìn mọi việc sòng phẳng và tự tin hơn.

Cô hàng cà phê rực rỡ và thơm tho như một mặt trời của xứ người, xuất hiện giữa hai ông già, thẽ thàng:

– Thưa ông nội, thưa ông ngoại… Có bà bên kia hỏi thăm hai ông đó! Cháu mời bà ấy sang ngồi cùng hai ông nghen!

Cả bốn con mắt nhằm vào một điểm:

– Hư…ơ…ng… – Hợp âm bè đôi ngân vang, trẻ trung và tha thiết.

– Em…! à, không…! Tui về ăn Tết, muốn ở lại chờ ngày này và cũng chờ tìm hai… ông. May mắn quá! Sao trời đất run rủi thế này? Mai em bay rồi… nhưng sẽ quay lại, quay lại… – Bà lão quí phái vừa đi về phía bàn hai ông già đang ngồi vừa nói, gương mặt đầy xúc động, mừng rỡ lẫn tiếc nuối.

Họ ôm chầm lấy nhau, mắt ngân ngấn nước. Không gian lặng đi vì cuộc hội ngộ đặc biệt và bất ngờ.

Khi đã ngồi xuống ghế, bà lão chỉ tay về một nơi nào đó, phía sau công viên, bảo :

– Tui muốn ngồi nhìn lại nơi dự định xin phép nhà chức trách, xây một trung tâm nuôi dạy những đứa trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam của quê mình. Di chúc ông chồng người Mỹ của tui ghi rõ như vậy… Ông ấy mất cũng vì nhiễm cái chất quái quỉ ấy ở Việt Nam… .

Ông già cao to vồ vập :

– Bà về ở hẳn đây và mỗi ngày ngồi uống cà phê với hai thằng tui chứ ?

Ông già thấp bé cắc cớ:

– Giờ được trẻ lại, trong hai người tụi tui, bà chọn ai?

Bà lão lườm ngang một nhát dài:

– Sắp xuống mồ còn hỏi lung tung… Mà được trẻ lại ư? Trẻ lại như ngày xưa ư?…Chao ôi! – Bà lão dừng lặng, mơ màng – Chọn ai… thì… chưa biết, có điều cần phải làm khác đi, đó là… em… không quyết liệt và dại dột như vậy nữa! Em… sẽ làm một cái gì đó nhẹ nhàng, giản dị và có lương tâm hơn. Em… sẽ…

Những giọt nước mắt từ gương mặt còn vương lại những nét xinh đẹp của bà lão Việt kiều rơi long lanh trong nắng sớm khiến cả hai ông già, một cao một thấp, một mập một ốm cứ lúng túng như hai chú gà mắc tóc.

Mặt trời thấy vậy, nở nụ cười giòn trên cây lá rồi nhìn theo mãi bóng  ba người già dắt nhau đi về phía con đường mang tên 30 tháng 4.

 

(Báo Văn nghệ)

 

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HỘI  NHÀ VĂN VIỆT NAM

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HNVVN – 1

 

Thẻ: , , , , ,

Cơn mưa

Cơn mưa hạ kéo dài từ hồi đầu tháng Ba, rả rích mãi, mà trời thì buồn như trời tháng Mười, ngâu ngâu một màu xám chì phủ xuống nơi miền quê quanh năm ngập tràn sông nước. Sáng sớm gió hiu hiu se cơn lạnh từ ngoài khơi thổi vào đất liền, thổi vào mùi hăng nồng ngây ngây của loài rong trên biển, khiến tiếng rao hò hơ của ai đó trên những chiếc thuyền độc mộc nghe chập choạng, lạc lõng hơn bao giờ. Những chiếc thuyền nhỏ rẽ sóng, nhấp nhô khi ẩn khi hiện trên sóng, chòng chành trên nước như những nhánh cây lục bình lờ đờ.

Cuộc sống người dân chài trôi qua thầm lặng hiền hoà, hiền hoà như buổi chiều tàn lắng xuống một mùa mưa không có giông bão lớn, những buổi trưa vàng đầy gió có con tàu đánh cá xa bờ trở về mang theo cá tươi rôm rả đầy trên thuyền, tiếng cười nói huyên náo của các chàng trai trẻ với gương mặt còn căng đầy mùi muối mặn sóng nước, căng đầy trên mái tóc một màu cỏ khô bồng bềnh gió sương. Họ đứng xoay tấm lưng trần màu đồng thau về phía mặt trời đỏ rực, phía xa xa là chân trời tiếp biển mênh mông như tấm màn xanh ngắt của đất trời.

Tôi được sinh ra và lớn lên tại một miền quê nghèo vùng ven biển. Cuộc đời vẫn thường có những đổi thay không giống như mình hay nghĩ về một phía còn lại. Khi viết những dòng chữ gửi về cho quê hương là ngày tôi đang sống bên kia bờ đại dương xa xôi hơn nửa vòng trái đất, để đến đất nước Nga xa lạ với tấm hộ chiếu trong tay và mảnh bằng tốt nghiệp trung học loại xuất sắc.

Mỗi khi trời đổ mưa dai dẳng bên xứ người, tôi ngồi trong phòng vắng một mình, không có bạn bè, không người thân… những lúc như vậy lòng tôi quay quắt đi vì nhớ nhà. Tôi nhớ thật nhiều vòng tay ấm áp của mẹ, nhớ tiếng nói khàn khàn của cha vì sóng nước, và nhớ cơn mưa cuối chiều hay đổ xuống khi tôi đi học về bụng đói cồn cào, tôi lao vào trong bếp còn ấm lửa để tìm mẹ, lần nào cũng vậy, mẹ cười rồi ôm tôi vào lòng:

– Con trai đói rồi phải không nào, ôi chao bàn tay con sao lạnh thế này hở?

Tôi phụng phịu rên ư ử trong miệng bâu lấy mẹ cứng ngắt, anh Hai đang đổ nước vào trong lu thấy vậy cười to lên:

– Mẹ đừng nói nữa cậu suýt khóc nhè kìa, lớn rồi mà làm thể bé lắm, tụi con gái đứng ngoài sân nó leo leo cho.

Giờ thì mẹ không còn trên cõi đời, mẹ mất vì một cơn bệnh cảm bình thường. Ngày ấy cha biên thư sang báo tin dữ nói mẹ đi buôn bán đường xa dưới tận miền tây, gặp cơn mưa bất chợt đổ xuống rồi cảm lạnh xoàng, cứ tưởng không có gì trầm trọng vậy mà mẹ đã mất gần mười năm nay.

Thứ bảy có thằng bạn thân ở trọ cùng phòng rủ đi ra phố chiều, lúc đi ngang qua khu phố Tàu nhìn thấy chiếc áo len màu xanh bày bán trong tủ kính, tôi muốn dừng lại mua để gởi về tặng mẹ. Tôi nhớ chiếc áo len mẹ mặc dưới quê đã cũ. Lòng tôi muốn dừng nhưng đôi chân lại quay đi vì lúc đó mẹ đâu còn sống mà mua về.

Ngày mẹ còn sống, cha và anh Hai đi biển có con cá nào ngon cũng mang về nhà, mẹ bào lóc thịt ra rồi cho vào cái cối đá quết, quết càng lâu thịt cá cứ trắng lần ra, mẹ dùng tay vắt từng miếng nhỏ cỡ hai đầu ngón tay, thả từng miếng vào chảo mỡ đang nóng chiên vàng. Hồi đó mẹ thương tôi nhất nhà vì tôi là út, cũng có thể vì tôi ốm yếu nhất, hai chân dài khẳng khiu như hai ống tre sậy.

Mẹ thường bồi dưỡng cho anh em tôi món chả cá Thu nấu với bột gạo xay, mẹ nấu khéo lắm. Cứ nhìn từng sợi bột trắng tinh chảy dài xuống nồi nước đang sôi sùng sục trên bếp thấy mà thích. Chưa hết, mẹ bắt thêm vài con cua biển nuôi trong chạn, bảo anh Hai giã đành đạch trong cối đá, chừng nửa tiếng sau nồi bánh canh được nhắc xuống. Gạch cua đỏ nổi lên đặc quánh thành nồi. Mẹ nhìn anh em tôi ăn mà đôi mắt người long lanh niềm thương yêu vô bờ.

Quê hương tôi ngọt ngào như dòng sông tuổi thơ êm đềm, hiền hoà như ngụm nước mưa đầu mùa. Tôi nhớ những ngày trời hay mưa giông, cơn mưa cuối chiều trút ào trên mái tôn rả rích tiếng rơi lộp độp, chẳng hiểu sao tôi cứ hay ngây ngây đằm thắm nhớ lại những ngày xưa đó thật nhiều, nhớ con đường làng vòng vèo có hàng dừa cao ngả ngớn theo dòng nước trôi, những ngày trời lập đông giá rét, tôi thích ngồi nép chân mẹ đan áo bên bếp lửa hồng tìm hơi ấm. Giờ đây xa quê hương gần mười năm dài nhưng chưa bao giờ tôi có được một điểm dừng chân trọn vẹn để thưởng thức lại món ăn mà ngày xưa mẹ làm.

Tôi bước chầm chậm ra biển vắng một mình, cảm thấy lạc lõng bơ vơ hơn lúc nào, cái bến mà một thời ẩn đầy kỷ niệm tuổi ấu thơ luôn làm cho trái tim nhói đau mỗi khi nhớ nhà. Còn đâu tiếng reo hò phá phách của bọn trẻ con trong xóm cũ, còn đâu những trận đòn đỏ cháy cả mông vì tội leo sang nhà người ta hái trộm trái cây còn chua lòm.

Lần này trở về thăm quê, tôi đứng ngẩn ngơ mãi một mình nơi con hẻm nhỏ, mẹ không còn sống để mừng rỡ chạy ra đón tôi từ ngoài cổng đầu làng, cha cũng không thấy đâu, tôi ân hận vô cùng vì chuyến bay trục trặc lỡ muộn mất hai ngày không kịp về nhìn lại mặt cha lần cuối trên giường bệnh. Chú Ba và cô út Thoa ôm chầm lấy tôi khóc oà. Tôi ngơ ngác nhìn quanh ngôi nhà trống vắng, cố tìm kiếm một chút của quá khứ còn lại mà thời gian vô tình đem tất cả ra đi. Tôi về muộn quá rồi phải không? Cô út vừa khóc vừa nói:

– Thằng Luân về rồi ư? Sao trễ vậy con? Cha con không chờ được nên con về mà không gặp mặt cha… người ta mới chôn người ngày hôm qua thôi.

Tôi lắc đầu nói, có cái gì thật nghẹn ngào:

– Cha con bị bệnh lâu mà sao không có ai báo tin cho con hay để về sớm hơn, con có lỗi với cha mẹ nhiều quá.

Chú Ba nắm chặt vai tôi phân giải:

– Không phải vậy, cha con không muốn con biết tin vì ông sợ làm dở dang việc học hành của con, lúc ông phát bệnh nặng thì con đang bận thi cử gì bên ấy thì phải, sắp nhắm mắt ông mới chịu cho người đánh điện tín sang nhắn con về nhìn con lần cuối cùng Luân à.

Tôi quay đi đưa mắt nhìn lên bàn thờ có tấm hình cha đặt phía sau lư hương còn ngái mùi cát lạnh, một vài bông cúng màu vàng thật buồn trong chiếc bình hoa cũ phai màu:

– Con vô tình quá, thế mà con cứ đợi đến khi tốt nghiệp xong rồi về thăm ở với cha thật lâu cô chú à, bây giờ con về đây có còn ai nữa đâu nào.

Chú Ba xúc động nói:

– Nếu biết con trở về như thế này, cha mẹ con dưới suối vàng mãn nguyện lắm rồi (rồi chú nheo nheo mắt ngắm nhìn tôi từ đầu đến chân) thật chú không ngờ con lại cao lớn đằng này rồi sao Luân? Mới ngày nào tiễn con sang nước Nga học, vậy mà giờ đây trở về có gặp ngoài đường dám chú không nhận ra con đâu.

Tôi cười buồn:

– Mộ cha mẹ ở đâu vậy chú? Con muốn ra thăm và thắp nén nhang cho cha mẹ.

– ừ, chỉ mới hơn năm giờ, thôi đi nhanh chứ không lát chiều hay có mưa giông.

Tôi bước theo những người thân còn lại đi ra nghĩa trang nằm cách nhà tôi chừng một cây số, gió chiều mơn trớn se cơn lạnh làm mấy nhánh cây trên đầu rung rung thật buồn. Nấm mộ cha còn mới nên ngái mùi đất lạnh nằm song song bên mộ mẹ, thật đơn sơ trên tấm bia có những vệt vôi trắng ghi tên tuổi tôi ở bên dưới, tôi cúi đầu quì xuống và nói âm thầm:

– Con trai trở về thăm cha mẹ đây, cha mẹ có nghe tiếng con nói không?

Nén nhang vừa đốt lên ngả nghiêng trước mộ vì gió biển thổi vào lớn quá. Bao nhiêu năm trở về thăm mẹ mua quà tặng cho mẹ chẳng có gì ngoài những đoá hoa biên biển mà ngày xưa mẹ rất thích. Cô Thoa hái đưa cho tôi một bó hoa để tôi cắm chậm rãi lên xung quanh ngôi mộ. Nước mắt tôi chợt rơi xuống tự lúc nào.

Cô Thoa cứ đứng bên tôi khóc hoài. Chiếc áo bà ba màu trắng nhạt nhoà vệt nước mắt loang lổ trên vai cô. Chú Ba lén bỏ đi đâu tuốt đằng xa kia, rồi chú dừng lại nơi có bụi cỏ hoang mọc quanh năm nơi cuối nghĩa trang, khom người đốt điếu thuốc hút phập phồng.

Chiều xuống nhanh để rơi đâu đó những vệt nắng cuối cùng trên nghĩa trang buồn, tôi bất động nhìn đăm chiêu mê mải phía trước, một vài nấm mồ đơn độc nhú lên chập choạng, lẻ loi như kiếp người trôi qua trong giấc chiêm bao chập chờn.

Tôi ngước nhìn trời bởi hình như có vài giọt nước thật lạnh vừa rơi trên vai áo, cũng vẫn là cơn mưa cuối chiều ấy hay sao? Cơn mưa luôn làm cho tôi nhớ hoài kỷ niệm về mẹ. Cô út giục tôi về sớm không nên ở ngoài này lâu vì trời sắp trút nước xuống, đường bị lầy rất khó đi. Tôi lặng lẽ bước ra về, không quên quay đầu ra sau nhìn lần nữa, tôi chầm chậm theo chân chú Ba đi dọc quanh con đường mòn trở về nhà.

Trước ngày rời xa quê để sang lại bên ấy, tôi đến từng nhà hàng xóm thăm hỏi và tìm gặp lại những thằng bạn cũ ngày xưa, nhưng chúng nó cũng không còn ở lại đây, mỗi đứa một nơi lưu lạc phương xa không biết phương trời nào mà tìm. Tất cả hình ảnh đó cứ thấp thoáng đi qua tâm trí tôi. Vâng, tôi hiểu, sẽ không bao giờ tìm lại được hoặc đuổi kịp nó dầu chỉ một lần trong cuộc đời.

Tôi đứng lặng nhìn ra biển mãi, ngày mai ra đi chưa biết bao giờ lại trở về, dường như có tiếng ai từ ngoài khơi xa gọi tên tôi âm thầm, phải chăng đó là tiếng gọi của người anh trai mà lâu lắm rồi tôi mới trở về để nhớ đến anh chăng?… Bọt biển trắng xoá vỡ tan từng hồi lên đôi bàn tay tôi vướng nhiều lắm bụi trần, sóng biển hiền hoà vỗ về ru lòng người như muốn mềm đi những khoảnh khắc để nhớ nhung con người đã bỏ biển ra đi, và những người nằm lại dưới đại dương đời đời vì bão tố. Đại dương mênh mông kia sẽ mãi là một nơi mà họ gởi gắm trọn cuộc đời ngắn ngủi. Các anh không có nhà, không có cuộc đời, cho đến ngàn đời sau có mơ ước nhiều cũng không được một nấm mồ xanh bên thềm.

Anh trai tôi đã ra đi như vậy, lâu lắm rồi tôi không được nhìn lại bóng dáng anh. Buổi chiều cuối cùng hai anh em ngồi chơi với nhau trên bệ đá lớn sau hè, miếng đá to lớn màu rêu mốc không hiểu nó có tự bao giờ mà chiều chiều tôi hay ra đó nằm ngủ. Anh Hai đang kể chuyện nghe sự tích ông thầy chùa cạo đầu cho tôi nghe, chưa đến đoạn kết, thì mẹ gọi anh vào để ăn cơm tối cho kịp  giờ ra biển.

Mẹ nấu món canh cua giã ăn chung với bún khô mà dì Hạnh tôi gởi từ Sài Gòn xuống, dì gởi nhiều lắm vì sợ mưa gió thất thường rồi anh em tôi bị đói như những năm trước. Anh Hai rất thích món bún cua nên mẹ múc cho anh một tô đầy có miếng cua nổi gạch từng dề đỏ lựng. Chẳng hiểu sao buổi cơm chiều hôm ấy cha tôi có vẻ mặt buồn buồn, ông bước ra ngoài hiên đứng nhìn trời, điếu thuốc đỏ lòm hút phập phồng trên tay. Ông nhìn trời thật lâu, không trở vào nhà.

– Con à, ở cuối đằng tây gió lớn kéo về, mà trời tối sậm lại ở đằng đông, cha sợ đêm nay có bão biển.

– Không sao đâu cha, bão mới vừa dứt xong không lẽ lại kéo đến nữa, trên khắp bãi mình có ai bơi xa bằng con không nào (anh Hai đang ăn chợt ngẩng lên cười, trên trán anh lấm tấm giọt mồ hôi) có chuyện gì thì con bỏ thuyền mà bơi vào bờ thôi.

Cha lắc đầu húng hắng ho:

– Bơi sao nổi con, đã có bão thì sóng lớn phủ to đầu như cái nhà, ghe mình ra ngoài đó khác gì lá trôi sông, thôi nghe cha lần này ở nhà rồi chuyến sau cha hết bệnh đi cùng con, để con đi một mình không yên tâm chút nào.

– Hồi trưa, ông Năm ghe nói chuyện với con, ông cằn nhằn đến mùa câu mực mà cha cứ nghỉ hoài, không có cha thì anh em bạn không yên tâm đi xa hơn, cứ vậy thì thua thuyền họ, nghe ông ấy nói mà con thấy khó chịu trong người, lần này con phải đi chứ không mất việc cha à.

Mẹ im lặng lén đưa tay áo chùi ngang mặt, cha trầm ngâm nhìn mông lung ra ngoài trời, tôi còn bé quá lúc đó chẳng biết gì, nắm tay anh mà bi bô nói:

– Anh Hai đi biển về nhớ mang cho em con ốc thổi tù tù, tiếng thổi nghe to hơn con ốc của thằng Tò cơ.

– ừ, để anh ra khơi tìm cho em con ốc chúa lớn nhất xóm, ở nhà học cho giỏi nghen, không được rủ bạn bè đi phá phách vườn nhà người ta nữa đấy.

– Chuyến này anh đi biển về sớm hơn được không? Lần trước anh đi gần một tháng cơ, em chỉ thích anh mang ốc về cho em thật mau thôi.

Tôi còn nhớ lúc đó mắt anh cười hiền lắm, anh vít đầu tôi xuống rồi ra đi thật nhanh vì thằng bạn cùng bè đang đứng ngoài sân chờ.

– Ăn thêm một bát nữa con à, ra ngoài khơi gió lạnh mau đói lắm.

– Thôi con no rồi mẹ ạ, con phải đi chứ không chủ tàu đang chờ.

Đêm hôm trời chuyển gió dữ dằn, sấm chớp xé rách màn đêm, mưa suốt ngót cả tuần liền. Qua đợt bão tố rồi đến trời lặng lại trong văn vắt, nhìn bầu trời xanh trong mà lòng người ở lại muốn rợn người. Con tàu đánh cá không bao giờ trở về cùng với hai mươi người thanh niên trai trẻ. Anh Hai tôi đã ra đi như vậy, anh không có cơ hội để về nhìn lại người mẹ thân yêu ngày đêm mòn mỏi chờ tin con. Thời gian cứ trôi từng ngày, qua đi từng tháng, chiều chiều tan học tôi hay lén mẹ thơ thẩn ra biển một mình, đứng trên bờ ngóng trông ra ngoài khơi chờ anh Hai mang con ốc về cho mình…

 

(Báo Văn nghệ Trẻ)

 

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HỘI  NHÀ VĂN VIỆT NAM

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HNVVN – 1

 

 

Thẻ: , , , , , , , , ,

Thầy Phùng kỳ quặc khác người

Thầy Phùng kỳ quặc và vẻ như xoàng xĩnh từ sức vóc tới dáng hình. Bẩm sinh thầy thuộc nòi người kẹ, thấp bé nhẹ cân, chiều cao chỉ xuýt xoát mét rưỡi, trọng lượng chưa đầy bốn mươi ki lô. Đã thế cái đầu hơi to của thầy lại hay sùm sụp cái mũ lá rộng vành. Và đôi chân vốn đã ngắn lại đi kiểu chữ bát, thêm nữa hai bàn chân lại xỏ trong đôi giầy da thô cá sắt, mũi gồ đại bố. Nên trông thầy càng thấp, nhỏ, càng dị tướng dị hình.

Kộp kộp kộp… Đó, thầy Phùng đang bước trên hành lang dẫy lớp học trường Sư phạm sơ cấp tỉnh tôi. Chắc thầy rất muốn oai vệ. Nhưng khổ thế đấy, lúc đứng trông thầy buồn tẻ như cây rủ bóng, còn bây giờ cũng chẳng hơn gì, vì trong thế chuyển động đầu đổ về phía trước, tay vẩy phía sau, trông thầy tất tưởi, vất vả lắm!

Hay là cái tướng ẩn của thầy chỉ hiện ra khi thầy đứng trên bục giảng, trước học trò? Thì đây.

– Tôi là Phùng – Thầy cất tiếng – Phùng nghĩa nôm là phùng phình, là rộng. Nhưng theo nghĩa chữ Hán, phùng là gặp. Nhưng tôi là Vũ Bất Phùng, tức là không gặp. Không gặp gì? Không gặp thời. Nghĩa là lạc thời. Nghĩa là… thời đất nước có giặc, xung phong cầm súng ra mặt trận cũng không đắt!

Thôi thế thì đúng rồi! Khác hẳn! Khác hẳn! Cứ như là một thầy Phùng khác chứ không phải là một thầy Phùng thấp bé, còi cọc, tầm thường. Thoát hẳn ra cái lốt khoác ngoài hàng ngày, giờ đây bao nhiêu quý tướng trên gương mặt, trên thể chất thầy mới phát lộ ra hết. Mặt thầy tròn đầy, đầm ấm. Hai gò má thầy hồng nhuận. Đôi môi thầy là môi thiếu nữ. Hàm răng thầy đều nhỏ như hạt bầu. Và đặc biệt, giọng nói của thầy vừa ấm áp vừa vang vọng, cao quý và quyến rũ lạ thường. Lúc này thầy hiện lên như một kẻ hào sĩ thời hiện đại, vừa thông tuệ hoạt bát vừa hóm hỉnh tài hoa, cốt cách vừa cao thượng vừa có phần ngạo nghễ thông tục.

Ngạo đời tí thế thôi chứ thầy Phùng đâu có phải là kẻ lạc thời! Cuối mùa kháng chiến chống Mỹ, đúng 19 tuổi, vừa tốt nghiệp trường Sư phạm sơ cấp tỉnh, thầy đã xung phong nhập ngũ. Và cuối cùng đã được chấp nhận. Nói cuối cùng được chấp nhận là bởi vì thầy đã phải dùng mẹo. Ví dụ: thầy uống thật nhiều nước, ăn thật no căng để tăng cân; thầy kiễng chân để đủ chiều cao khi người ta đo. Và người ta đã biết tỏng, nhưng rồi chính người ta thể tất cho bầu nhiệt huyết của thầy. Chỉ có điều là dẫu đã được nhập ngũ, thầy vẫn không được như người khác. Không được xung vào binh chủng pháo binh, xe tăng, đặc công hay công binh, bộ binh. Căn cứ sức vóc, dáng hình thầy, có nhẽ thế, người ta phân thầy về ngạch giữ kho thuộc ngành hậu cần. Suốt năm năm cuối cuộc kháng chiến thầy chỉ là anh binh nhất trông coi một cái kho đạn súng cối ở trong một khu rừng gần biên giới Căm pu chia. Suốt năm năm, người ta quên bẵng cái kho và tất nhiên quên luôn cả thầy. Suốt năm năm, chẳng biết người ta còn nhớ hay đã quên mình, thầy cứ việc mình mình làm. Thầy cứ như một kẻ tự vạch ra con đường và tự đi, dẫu chỉ có một mình. Suốt năm năm một mình một bóng cặm cụi, thầy canh giữ an toàn, không suy suyển một viên đạn trong cái kho đạn khổng lồ nơi rừng sâu nọ. Suốt năm năm thầy phải trồng bắp, trồng bí để tự nuôi mình. Phải tự săn sóc thuốc thang lấy khi ốm đau. Suốt năm năm sống trong lo sợ khủng khiếp là không được giao tiếp mãi thì sẽ quên mình là người, không biết mình là ai nữa. Thành ra để luôn nhớ mình là người, thầy phải làm việc, phải tự suy nghĩ, nghiền ngẫm và phải cử động cái miệng, thẻo lưỡi, tức là phải phát ngôn, phải nói liên tục. Nhưng mà nói liên tục một mình mãi thì cũng chán và vô nghĩa quá. Vậy thì hát. Mình hát cho mình nghe, thì cũng được chứ sao. Thầy hát liên tục. Thầy hát lúc dọn dẹp quét tước trong kho. Hát lúc lau chùi từng viên đạn cối. Hát lúc một mình phát rẫy. Hát lúc chặt cây, sửa lán, đóng giá đỡ, chuồng gà, lồng chim. Thầy hát qua ngày này ngày khác và nhờ đó phát hiện ra mình là người có giọng hát. Thầy có chất giọng baritông trầm ấm khá hay. Chứng cứ là mấy con vẹt, con yểng thầy bắt về nuôi cũng đứng ngẩn ngơ quên cả hót vì nghe thầy hát.

Thầy hát trong cô quạnh giữa miền rừng núi thâm u. Thầy hát đủ các thể loại. Từ dân ca quan họ, cò lả, trống quân đến các bài hát thời nay như Thiên thai, Suối mơ, Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù… Đặc biệt là môi thầy rất hay tung tăng mấy câu[/i] hát này trong bài Sơn nữ ca:

Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây. [/i]

Sơn nữ ơi! Đừng làm thắc mắc thêm lòng khô cạn từ lâu nước mắt đầy vơi.[/i]

Lời ca trong chất giọng trầm buồn của thầy nghe mà cao ngạo mà nao lòng, muốn rơi nước mắt.

Thế đó, người ta đi vào cuộc chiến tranh thì có đồng đội. Còn thầy, thầy chỉ có một mình. Đó là những năm tháng thầy Phùng hát nhiều nhất và do phải tự thân vận động để tồn tại nên thầy có thói quen tự lực và rất khéo tay. Hoàn cảnh thật là một ông thầy tốt. Ông vun xới cái tài sẵn có, đào tạo thầy thành một người đa năng, việc tay chân gì cũng tự biết, cũng thông thạo hơn người!

Cuối cùng thì người ta cũng nhớ đến cái kho bị bỏ quên suốt năm năm trong rừng. Và tiếp nhận cái kho nguyên vẹn cơ số đạn xong người ta mới khiêng thầy Phùng đến bệnh viện.

– Đồng chí có một khối u ở bên phổi trái.

– Thật à?

– Sao lại không thật?

Bác sĩ X quang nói, nheo cặp mắt thương mến và ái ngại nhìn thầy, một thân xác quắt queo còm cõi ốm o. Những tưởng thầy sẽ tủi thân tủi phận khóc oà. Nào ngờ thầy ngoạc miệng cười thành tiếng khanh khách:

– Tôi không có khối u ở phổi thì mới là lạ, bác sĩ ạ. Năm năm liền ở trong rừng tôi toàn uống nước dưới tầng lá rụng vì chất độc của máy bay Mỹ rải. Không chết vì nó thì tôi khinh nền khoa học kỹ thuật của bọn giặc này quá!

Thầy Phùng ngạo nghễ hát chờ đón cái chết. Nhưng thầy Phùng không chết. Vì sao? Vì số thầy chưa tận. Vì thầy cầm tinh con mèo. Mèo tiếng thế sống dai lắm! Vì bác sĩ X quang nọ xem nhầm bệnh phẩm. Thành ra cái chết của một ông đại tá béo ú, toàn mỡ là mỡ suốt mấy chục năm trường sống ở hậu phương an toàn định chuyển sang cho thầy mà không thành!

Không chết, thầy Phùng với cái vóc hình như có lỗi với đời, lại được người ta trả về cho nghề thầy. Trở về với nghề thầy, sau những năm tháng một mình một cuộc chiến trong rừng, mới hai mươi tư tuổi mà thầy trông đã lụ khụ và âm thầm như ông lão, tính tình cũng ngày càng lập dị khác đời như người già.

Người ta cho ăn mày là bố thí cho kẻ đáng thương. Còn thầy đang ăn khoai, có ông lão hành khất đến cửa xin ăn, thầy mời ông lão vào, úp bát mì ăn liền cho cụ ăn, rồi còn tỏ lòng cám ơn khi tiễn đưa. Hỏi vì sao thì thầy đáp: Đó là vì nhờ có người ăn xin mà ta mới có cơ hội bầy tỏ hảo tâm của mình. Cũng như ông – thầy nhìn sang ông hiệu trưởng – sở dĩ ông được chức tước to vầy, là nhờ anh em chúng tôi ngu si đần độn, xứ mù người chột làm vua, do vậy ông chớ nên ngạo mạn làm càn.

Trong buồng thầy ở, mạng nhện chăng đầy trần nhà. Ông hiệu trưởng nói kháy: “Thầy Phùng muốn nhờ tay nhện để giữ gìn môi trường sạch sẽ, không có ruồi muỗi!” Thầy bĩu môi lắc đầu: “Buồn trông con nhện chăng tơ. Có câu thơ cao siêu đó đấy, chứ đâu có[/i] phải cái gì cũng lấy vụ lợi làm đầu!” Đi đường thầy đội mũ ngược, để lưỡi chai che gáy phía sau. Thầy giải thích: phải nhớ đề phòng kẻ cắp ở phía sau và trên thế gian này còn ối kẻ không cầm tinh con ngựa mà rất thạo bài đá hậu!

Không! Mặc cho thầy hiệu trưởng sa sầm mặt mỗi khi nghe thầy nói có hàm ý châm chọc. Mặc cho ông hiệu trưởng tỏ vẻ không thích thầy, thầy vẫn là con người thích hợp với nghề thầy, thầy vẫn là người thầy được học trò kính phục và yêu mến, ngưỡng mộ. Đó là vì học trò qua thầy hiểu rõ thế nào là sự tận lực tận hiến chân thành của một người thầy. Đó là vì sức quyến rũ của tấm lòng và tài năng cùng sự uyên bác của thầy. Ôi, những tiết học thầy đứng trên bục giảng! Chẳng còn thấy đâu là cái thân xác quặt quẹo còm nhom của thầy nữa. Thầy biến hóa. Thầy như được hưởng phép lạ. Thầy thoắt trở nên một trang dũng hiệp vừa tài tử duyên dáng vừa oai phong lẫm liệt. Nghề nghiệp cho thầy cơ hội để thầy bộc lộ những năng lực ẩn giấu tiềm tàng. Để bùng cháy những cảm xúc thầm thì. Mắt thầy bừng sáng. Giọng thầy sang sảng. Cử chỉ hoà hợp với lời nói. Những ý tưởng mới lạ xuất thần kết hợp với cách phô diễn đầy màu sắc ẩn dụ đôi khi điểm xuyết cách nói lắt léo, vòng vèo dí dỏm, khiến học trò nhiều lúc ngẩn ngơ như ngợp trong một diệu cảnh huy hoàng. Diễm phúc thay cho những ai có một tuổi trẻ học đường được là học trò của thầy! Hạnh phúc quá khi được nghe thầy giảng một giờ! Thành ra học trò lớp khác thèm được học thầy quá, có đứa còn bỏ cả tiết học lớp mình, lén lút đến nghe trộm bài thầy giảng; chúng làm cho các thầy khác phát ghen.

Thầy dạy môn nào cũng hay. ở môn nào thầy cũng bộc lộ cái tài hoa đặc sắc của mình. Vòng tay một cái là thầy vẽ xong cái hình tròn, tròn xoe cứ như vẽ bằng com pa. Trong giờ địa lý, miệng thầy nói, tay thầy vẽ, mà bản đồ mỗi nước từng nét khúc khuỷu ở đường biên chính xác như bản đồ in. Những con chim, con mèo nhồi bông và những thí nghiệm do thầy khéo léo làm ra trong các môn sinh vật, vật lý, hoá học khiến các thầy khác lại một lần phải ghen tỵ. Thầy dạy nhạc thì thật tuyệt. Chất giọng vàng, giọng bạc của thầy dấy lên cả một phong trào ca hát trong nhà trường. Thầy là một con người đa năng, một nghệ sĩ đa tài. Tuy vậy, môn văn vẫn là môn thầy dạy hay nhất. “Thưa thầy, thầy tha lỗi cho em, nhiều hôm nghe thầy giảng thơ, em cứ như mê mị như ở trong cõi mơ ấy ạ”. Đó là lời tâm sự thành thật của cô Thủy, học trò lớp 9 với thầy. Thủy mười tám tuổi, mặt trái đào, mắt đen thăm thẳm bí ẩn như mắt con gái miền sơn cước, có mái tóc dài chấm kheo chân, có năng khiếu đặc biệt về môn Văn. Em rất ngưỡng mộ thầy và quý mến thầy. Nghe em nói vậy, thầy đáp: “Đừng khen thầy, vì nói hay không bằng nghe giỏi đâu, em!”

Thói đời ở đâu có tài đức, ở đó có đố kỵ ghét ghen. Huống hồ thầy hiệu trưởng Thức lùn tì, tóc rậm bờm ngựa, mắt ti hí, chân dài chân ngắn, tiên thiên bất túc lại vốn con người lòng dạ hẹp hòi. Thật tình thầy Thức trước nay tiến thân đều bằng thủ đoạn kèn cựa, đặt điều vu vạ. Hết lớp 12, thêm hai năm sư phạm nữa, câu viết còn chưa thành, bài toán một ẩn số giải còn sai, nói gì đến vi phân, tích phân với đạo hàm! Kiến thức xã hội thầy còn lỗ mỗ hơn. Đã thế tác phong lại lúi xùi, nói năng lại bộp chộp. Thầy chỉ được mỗi cái tài ganh ghét chê bai người. Thôi thì còn thiếu gì điều thầy Thức sàm báng, chê bai thầy Phùng. Chê từ cái dáng đi biểu hiện nỗi sướng khổ bất định của thầy. Sàm báng cả cái nét chữ bay bướm sinh động của thầy vì cho thế là lẳng lơ, đa tình. Bỉ bai cả việc thầy quyết tâm đi bộ đội bằng việc uống thật nhiều nước và kiễng chân khi đo chiều cao để khắc phục nhược điểm thấp bé nhẹ cân là cố đấm ăn xôi và tiếc thay xôi lại hẩm, vì cuối cùng là như tù giam lỏng trong một cái kho ở giữa rừng. Thầy Thức thấp kém lắm, thầy có biết đâu, khoảng thời gian sống một mình đó là cơ hội hiếm hoi của đời một con người. Con người phải được cá thể hoá đến triệt để trong tập thể. Con người phải tự ngẫm, tự suy xét ra điều hay lẽ phải chứ không thể a dua theo bầy đàn. Con người nhất thiết phải trở nên một kẻ có ích cho nhân quần. Chứ còn danh diện cá nhân đâu có phải là điều quan trọng. Thời gian một mình sống với cuộc chiến năm năm của thầy Phùng hoá ra là một trường học lớn. Nó quý giá gấp ngàn lần cũng quãng thời gian ấy sống nhởn nhơ ở hậu phương của khối người!

Trên thế gian này, con người đâu có sống thân ái với đồng loại mình! Hay theo cách nói lắt léo, hóm hỉnh của thầy Phùng thì con người vốn không ưa nhau, họ chỉ nhăm nhăm tìm cách hại trừ nhau một cách thân ái thôi! Có phải thế không? Câu hỏi này xin cứ treo đó. Còn bây giờ đã đến một bước ngoặt của cuộc đời thầy Phùng rồi. Vào cuối năm học này, cả thầy lẫn trò ở trường sư phạm này đều đang xôn xao và kinh ngạc về một vụ kỷ luật mà nạn nhân là thầy Phùng. Thầy hiệu trưởng Thức nói gay gắt: “Quan hệ thầy – trò là quan hệ thiêng liêng, không thể làm cho ô uế. Thế mà đây, thầy Phùng đã cả gan viết một lá thư tỏ tình với cô học trò Thủy! Vậy, thử hỏi thầy Phùng có còn xứng đáng được tồn tại ở nhà trường sư phạm tiên tiến của chúng ta không?”

Chưa đến mức phải ra khỏi ngành, thầy Phùng chỉ phải đổi lên dạy ở bản Pao Mao Chải thuộc vùng sâu vùng xa của tỉnh tôi. Từ tỉnh đi bộ ba ngày mới tới bản quê heo hút xa xôi này. Bản này có hai thôn cách nhau ba cây số. Xưa rày ở đây trẻ con chưa hề biết đi học là thế nào. ở đây, cán bộ xã thay vì ký thì ấn dấu ngón tay điểm chỉ vào cuối tờ công văn báo cáo do anh giáo viết hộ.

Năm năm trôi qua đánh vèo kể từ ngày thầy Phùng bị kỷ luật đưa về dạy ở Pao Mao Chải. Và điều kỳ diệu lại đã xẩy ra. Y như thời gian thầy Phùng là anh lính giữ kho đạn súng cối ở trong rừng vậy. Người ta có thể quên thầy, nhưng thầy không quên công việc. Đạn trong kho vẫn an toàn, không suy suyển. ở Pao Mao Chải còn hơn thế. Mặc người ta gây án oan, mặc người ta đầy ải. Năm năm qua, bản này đã có trường tiểu học hoàn chỉnh. Tất cả cán bộ xã đều đã đọc thông viết thạo. Hơn nữa, trường đã có một phân hiệu với hai cô giáo vốn là người Kinh khai hoang tự nguyện tham gia.

Công sức tạo nên điều kỳ diệu này trước hết thuộc về thầy Phùng. Thầy Phùng như kẻ đã tu luyện đạt chính quả, một mình sống trong những hoàn cảnh cô độc biết tự mình thoát ra khỏi sự chi phối của ngoại vật, tự vạch ra con đường đi theo lẽ phải, không cần sự mách bảo, sự an ủi, khích lệ của ai. Thầy Phùng, một bản lĩnh và một tài năng! ấy thế! Một anh nhà báo tỉnh tình cờ lạc đường vào Pao Mao Chải đã phát hiện ra thầy Phùng và trên tờ báo tỉnh anh đề nghị thầy phải được tuyên dương anh hùng. Trong bài báo của mình, anh còn kể tỉ mỉ nhiều mẩu chuyện kỳ khu về thầy. Trong vòng ba tháng thầy đã nói thạo và hát được tiếng Mông. Chính là những bài hát dân ca Mông của thầy đã gọi học trò đến lớp. Cả người lớn cũng mê tiếng hát của thầy. Rồi chính tay thầy phát nương gieo hạt bắp, trồng cây rau để tự nuôi mình và giúp các em có hoàn cảnh khó khăn. Vui nhất là chuyện thầy dựng một cây luồng cao chót vót ở phân hiệu của hai cô giáo đóng cách xa thầy ba cây số rồi bảo các cô mỗi khi cần thầy đến giúp đỡ thì kéo lên ngọn cây cột một mảnh vải trắng để làm hiệu. ở xa, điện thoại không có, trống gõ, kẻng khua cũng không nghe được, chỉ có mắt nhìn thấy thôi! Thầy nói thế và các cô giáo có bận bí quá đã kéo lên ngọn cây nọ cả chiếc áo lót  áo con của mình! Ha!

Tất nhiên là bài báo đã gây ấn tượng mạnh. ủy ban tỉnh điện hỏi Sở giáo dục: Sao không kịp thời nhân Pao Mao Chải thành điển hình tiên tiến? Sở giáo dục lập tức chỉ thị cho phòng giáo dục huyện lập ngay một đoàn kiểm tra đi ngay Pao Mao Chải để xác minh. Và dẫn đầu đoàn kiểm tra này lại chính là thầy hiệu trưởng Thức ngày nao. Thì ra năm năm qua thầy Thức cũng đã kịp nhảy cóc lên chức trưởng phòng. Gặp thầy Thức ở Pao Mao chải, thầy Phùng cười, nói: “Thì ra, con lợn ở đầu đòn gánh này đến chợ, thì ở đầu đòn gánh kia, củ chuối cũng đến chợ!” Thầy Thức tảng lờ, không nói gì, thầy Phùng nói tiếp: “Hoá ra Tôn Ngộ Không hoá phép thần thông quảng đại thế nào cũng không ra khỏi bàn tay Đức Phật Như Lai nhỉ?” Thầy Thức vẫn ngậm môi, không hé răng. Cho đến tận khi đoàn kiểm tra làm xong việc, trước khi rút quân, thầy trưởng phòng mới đến trước mặt thầy Phùng, mắt ti hí lầm lì, nghiến răng trèo trẹo gầm ghè: “Này, đừng tưởng bở! Dám bầy trò kéo áo quần đàn bà lên cột cờ làm tín hiệu để gọi bạn tình, phạm húy điều thiêng liêng như thế, lần này thoát được để thành anh hùng thì thật là kỳ quái đó!”

Nghĩ thế nào, thầy Thức nói thế, chứ thầy đâu có ý dọa dẫm. Thầy Phùng đã phạm phải trọng tội! Và lặng lẽ chẳng một lời kêu oan, thầy chấp nhận án kỷ luật bị sa thải ra khỏi nghề thầy.

Ra khỏi nghề thầy, cũng lại thật kỳ quặc, thầy Phùng vui vẻ gia nhập cuộc sống thường nhật của một người lao động lương thiện. Thầy trở thành một người thợ mộc khéo tay chuyên đóng bàn ghế và làm các đồ dùng giảng dạy cho các trường tiểu học, các lớp mẫu giáo ở thị xã này. Bây giờ, thi thoảng lại bắt gặp thầy sùm sụp cái mũ lá rộng vành, một mình một bóng ở một vỉa hè nào đó, vừa cặm cụi cưa đục vừa lẩm nhẩm mình hát mình nghe, lòng dạ vẻ rất thư thái thanh nhàn.

Thế đó, thư thái thanh nhàn thật, vì đâu có phải còn một miền xa chưa tới? Một chân trời chưa tỏ? Một ao ước chưa thành? Cuộc đời dấm dẳn như váy ba bức, khi nghiêm túc, lúc tếu táo, đều đã trải. Đời người như căn nhà lớn có nhiều căn buồng nhỏ, buồn vui, cay đắng ngọt bùi đều đủ chỗ chứa. Mới nghiệm ra rằng con người rất cần có những khoảng sống riêng một mình, tự mình trò chuyện, ca hát với mình, tự mình tìm đường và tự xét lấy mình.

Thế đó, ông thợ mộc Phùng ẩn mình dưới bóng cái mũ lá rộng vành, ngày ngày cắm cúi với công việc của mình. Cắm cúi một mình với câu hát quen thuộc thầm thì trên môi, nghe vừa ngạo nghễ vừa nao lòng: Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều, phiêu dạt thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ ơi!…[/i]

Cho đến một hôm bất ngờ có một phụ nữ xinh đẹp mặt trái đào, mắt đen thăm thẳm bí ẩn như mắt con gái miền rừng, có búi tóc lớn, bắt gặp thầy. Người phụ nữ đó nắm bàn tay thầy Phùng, gọi to: “Thầy Phùng ơi! Em là Thủy đây, thầy còn nhớ cái đứa nghe thầy giảng thơ mà mơ màng mê mẩn không?” Thầy Phùng ngẩng lên, lắc lắc đầu: “Có lẽ em nhầm tôi với ai đó rồi!” Người phụ nữ kêu: Không! Không! Em nhầm làm sao được! Nói rồi, hôm sau chị lại trở lại. Cũng tại cái vỉa hè thầy Phùng đang chi chát đập dùi đục. Lần này nước mắt lưng chòng, chị nói: “Lỗi là tại em, thầy Phùng ơi!” Thì ra, hồi đó, chính chị đã viết một lá thư bày tỏ tình yêu với thầy và lá thư đó không hiểu bằng cách nào đã rơi vào tay thầy Thức rồi lập tức trở thành duyên cớ của câu chuyện vu cáo đê tiện với thầy. Chăm chú nghe người phụ nữ kể, nhưng vẫn như lần trước, thầy Phùng lại ngẩng lên, lắc lắc đầu: “Có lẽ em nhầm tôi với ai đó rồi!” Quyết đi đến cùng sự thật, hôm sau nữa, người phụ nữ xinh đẹp tên Thủy lại tìm đến. Lần này, chị xăm xăm bước tới và bằng một động tác dứt khoát, chị đưa tay lật cái mũ lá rộng vành ra khỏi đầu thầy Phùng: “Trời! Anh Phùng! Gương mặt anh thần thái anh tinh anh thế, em nhầm sao được!” Lần này, vẫn là kỳ quặc khác người quá thể, thầy Phùng lại lắc đầu, quanh co: “Tôi cám ơn em, nhưng tôi có một người em sinh đôi, giống tôi như đúc, Thủy à!” Tuy vậy, nói vừa hết câu, nước mắt đã ứa chan chan, thân mình run rẩy trong một linh ứng dị thường và người phụ nữ xinh đẹp tên Thủy đã kịp ngả đầu vào vai thầy, nức nở: “Anh Phùng! Thế nào thì với riêng em anh cũng đừng trốn lẩn nữa, anh ơi!”./.

 

(Tạp chí Nhà văn)

 

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HỘI  NHÀ VĂN VIỆT NAM

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HNVVN – 1

 

 

 

Thẻ: , , ,

Tắm muộn

Đại hội văn nghệ tỉnh X lần này có mời hội tỉnh của Hà về dự. Do ít người đi nên thường trực mời luôn Hà theo dự cho vui. “Nhân thể cậu xem làm cái… phóng sự gì đấy để dự cuộc thi viết ký hội mình vừa phát động” – Phó chủ tịch hội nói. Tỉnh X như tỉnh Hà, có thế mạnh về du lịch biển nhưng xem ra cũng không ít những tệ nạn xã hội, nhất là mãi dâm. “Xem người, ngẫm ta”, nghe có lý lắm! Cứ ở lỳ một chỗ lâu ngày cũng xơ cứng cảm xúc, chuyến “xuất ngoại” này Hà sẽ làm cái phóng sự cho anh em, nhất là bên cánh báo chí “lác” mắt chơi. Viết phóng sự cần trang bị máy ảnh và muốn cho “tới bến” thường phải tốn tiền. Sau khi cạy cục mượn được chiếc máy ảnh xịn của anh bạn về, Hà nói với “bà xã”, là người bao giờ cũng mạnh dạn đầu tư vào việc sáng tác: “… Em vay nóng giùm anh cho kha khá, nếu bài hay, trúng giải không những trả được nợ mà còn có cơ may lợp lại cái mái nhà!”. Mái nhà của Hà lỗ thủng đinh nhiều đến mức bạn anh hay gọi đùa là “khách sạn ngàn sao”.

Đoàn của Hà đến thành phố biển vào buổi trưa trước ngày khai mạc đại hội. Vậy là anh được “tự do” một đêm văn ngẹhvà nửa ngày. Thời gian quan trọng nhưng gặp trúng đề tài viết mới quan trọng hơn. Nhận phòng, cơm nước qua quít, Hà quyết định thâm nhập thực tế ngay.

Thành phố biển này đúng là sầm uất và đẹp hơn thành phố tỉnh Hà. ở một nơi như vậy tìm cho ra cái phóng sự xã hội có khi còn khó hơn là mò kim đáy bể! Sau gần buổi sục sạo các chợ rồi lang thang ở bãi biển Hà chẳng tìm ra được đề tài nào. Có mấy vấn đề bật ra Hà thấy kha khá thì dường như ai đó đã viết rồi, còn thì xoàng xĩnh về lại thành phố nhà mình viết cũng được. “Dục tốc bất đạt”, lại càng không nên gấp hơn trong lĩnh vực sáng tạo. Nghĩ vậy nên với chiếc máy ảnh nơi hông, Hà đủng đỉnh tản bộ như một người du lịch bình thường. Thành phố đã đẹp khi lên đèn lại càng đẹp hơn. Khi Hà lấy xong mấy pô ảnh bãi biển vừa đi thì một chiếc xích lô rà theo. “Đi… vui vẻ hông chú Hai?”, người ngồi trên yên xe khá lớn tuổi thật thà hỏi. “Vui vẻ” là làm cái… “chuyện ấy”. Gọi vậy cho nhẹ nhàng chứ chuyện đó, có khi vui một chút nhưng buồn đến… suốt đời! Song trong lúc kẹt đề tài, cũng thử thâm nhập một bận xem sao. Biết đâu lại chẳng cảnh giác ai đó hoặc xới lên cho đồng nghiệp những góc nhìn mới hơn vào tệ nạn mang tính… “thời thượng” này. “Có xa và… bảo đảm không?”, Hà vừa đi vừa hỏi. “Gần đây thôi, toàn những người ngoài quê vào làm thuê, họ muốn “cải thiện” chút ít mà, nên đảm bảo lắm. Chú Hai lên xe đi!” Nữ lao động ngoài những miền quê đổ về thành phố tìm việc giờ rất đông. Nhưng nếu có tình trạng vậy thì đây là vấn đề lớn, cần tìm hiểu để viết. Nghĩ vậy nên Hà lên xe ngay. Tuy ông ta nói gần nhưng xe chạy khá lâu, cứ hết quẹo phải rồi cua trái. Nhưng không sao, mình nếu kiếm được cái phóng sự hay thì cũng để ông ấy nhờ chút cháo chứ. Chiếc xích lô đi vào khu có vẻ lao động thật, ngút ngàn những phòng ốc thấy đề “cho thuê giá rẻ”. Sau khi dừng trước con hẻm, ông xích lô liếc vào nói khẽ. “Chú vào phòng thứ hai có cái cửa dán giấy nhựt trình đó. Tui chờ ở đây”. Hà nhìn số xe ghi vào bộ nhớ để phòng bất trắc và đi vào căn phòng ông xích lô chỉ. “Vào trong này đi anh! Mau không tụi bạn em nó thấy”, một cô gái hé cửa mời nói với Hà. Anh vào và cô gái chốt ngay cửa phòng. Qua ngọn đèn ngủ không sáng lắm của căn phòng, Hà thấy cô gái này ngoại trừ bộ cánh quá mát mẻ ra thì dáng vẻ đúng là quê mùa thật. “Anh không quen… chuyện này, nhưng nghe nói em ở quê vào…”. Cô gái chơm chớp mắt sà vào Hà: “Ai mà lại quen chuyện này đâu anh, chẳng qua… hoàn cảnh thôi!”. Hà bắt đầu “tác nghiệp”: “Xin lỗi, em tên gì, nói cho anh dễ gọi?”. “Em tên… Hoa!”. “Giọng nói của em là ở miền… quê nào đấy nhỉ?”, anh lại tiếp tục hỏi và khởi động thu nạp của bộ nhớ. Hoa – tạm gọi thế chứ chưa chắc phải tên thật – vừa định trả lời thì có tiếng gõ cửa phòng: “Trả tiền phòng, trả tiền phòng…!”. “Bà chủ phòng trọ đòi đó, đưa năm chục trả tiền phòng đi anh!”. Sau khi Hà đưa tiền, cô gái tuồn qua khe nền nhà ra cho chủ trọ xong, lại bảo cho cô xin luôn tiền mình. “Cũng năm chục thôi anh!”. Hà lôi xấp tiền ra, không còn tờ năm chục nào cả, toàn giấy trăm ngàn. Chẳng là số tiền mang theo hơi nhiều nên vợ anh đổi ra vậy cho gọn. “Thì anh đưa đây rồi em thối cho!”, cô vừa nói vừa khéo léo nhón lấy một tờ từ tay Hà. Lấy chỉ một tờ còn đòi thối lại nữa thì đúng cô này là… nhà quê rồi! “Nói thật với em… anh…”. Hà chưa hết câu thì cô đã ưỡn người bụm lấy miệng anh, nũng nịu: “ở đây toàn thật không chứ có gì giả dối đâu anh! Chỉ có cái này – cô ta quăng cái “condom” là giả thôi”. Thứ ấy là dụng cụ để ngừa HIV, ADIS… rõ ràng cô ta là người lao động, nhà lành, lâu lâu “cải thiện” nên mới cẩn thận lo xa cho mình đến vậy. Cô gái nói xong bỗng dưng đứng dậy làm động tác toan… thoát y khiến Hà thất kinh, vội ngăn lại: “ấy khoan, để tâm sự cho tình cảm chút đã em…!”. “Thì mình vừa… vừa tâm sự cũng được vậy, có sao đâu”. “Bậy à, từ từ để… còn lấy trớn đã em” – Hà lại mon men phỏng vấn: “Thế… ở quê Hoa làm nghề gì?” “Em làm… ruộng!”. “Vậy… hoàn cảnh thế nào mà em phải vào đây, hở Hoa?”. Cô ta với giọng đầy nhớ lại: “Hoàn cảnh ấy hả? Hoàn cảnh của em là…”. Cô nói còn dở câu thì có tiếng của mụ chủ phòng bên ngoài gắt khẽ: “Hoàn cảnh với hòn cục gì! Mau lên, công an đang kiểm tra nhà bên cạnh kìa!”. Mụ gắt khẽ thế kia thì có khi là công an đang kiểm tra thật. Nếu thế thì bỏ mẹ, mình tình ngay lý gian! Hà vội xô cô gái ra và hấp tấp đứng lên. “Thôi anh về đây, hẹn em khi khác”, anh nói khi líu nghíu mở cửa thoát ra. “Chớ… không chờ lấy tiền thối sao, anh… gì ơi?”. Lại cũng một sự thiệt thà nữa nhưng Hà vẫn khoát tay, bươn nhanh về phía chiếc xích lô đang chờ mình.

Khi xe thoát ra khỏi khu ấy, Hà mới lau mồ hôi trán. “Mồ hôi mồ kê thế kia, chắc ông anh vừa… quần một trận đã đời nhá?”. Sao… ông anh? Hà xoay lại, người đạp xe là một thanh niên, chứ không phải ông già ban tối. “ổng chờ lâu quá không được, về ăn cơm rồi, tôi thay ổng. Ai thì cũng chở vậy thôi mà!”. Khi xe về đến gần khách sạn, Hà bảo dừng tính tiền. “Dạ, xin ông anh… sáu trăm”. Sáu trăm! “Sáu trăm gì? Anh có đùa không đấy?”. Anh xích lô lễ phép: “Dạ… tiền công chở, tiền chờ và chở lượt về, tiền tài đến lượt dắt mối, tiền trả cho tụi bảo kê, mặt rô…”. “Trời ơi…! Tôi có… “làm” gì đâu mà dắt mối, bảo kê…!”. “Ông anh ở trong đó hơn cả tiếng đồng hồ, ra mồ hôi mồ kê đầy mình mà bảo là không… “làm” gì cả”. Tay xích lô vẫn điềm đạm: “Mấy bảo kê hồi nãy chứng kiến từ đầu đến cuối, nếu em về nói vậy tụi nó sẽ “thịt” vì tội ăn hớt, nói láo thì… chắc chết em, ông anh ơi…!”. “Trời…!” Hà đưa hai tay kêu lên. “Bây giờ vầy – tay xích lô thấy Hà vậy nên cũng thương hại ôn tồn: Nếu quả thật ông anh với cô ấy không “có gì”, để… em chở ngược lại chỗ đó, rồi bốn mặt một lời, cho tụi mặt rô rõ thì em chỉ lấy tiền công chở từ tối đến giờ thôi”. Hắn nói có lý, song… khuya rồi, chở lại chỗ ấy không những mình nhừ đòn, mà có khi chẳng còn cái quần đùi để về. Hà nghĩ vậy nên móc tiền. Túi quần anh trống trơn! Hà rụng rời. Bao nhiêu là tiền bạc mà vợ con anh vay nóng vay nguội cho anh đem đi đã… không cánh mà bay! Nhất định là mất trong cái phòng có cô gái lao động nhà quê, thật thà ấy. Vậy là phải trở lại, nhưng… ai chịu tin cha bị ăn cướp và có gì để làm bằng? Không khéo phải đến công an cũng nên! Mà đến đó thì… Hà nhìn đồng hồ nhà ai đó, đã hơn mười một giờ! Khách sạn anh ở chỉ mười giờ là đóng cửa, nội bất xuất ngoại bất nhập. Hà ngao ngán bật ngửa người ra trên nệm xích lô và phẩy tay về hướng biển. Anh còn có một người bạn rất thân nơi thành phố này nhưng địa chỉ theo trí nhớ thì cũng chưa chắc chắn lắm… “Biết ngay mà! Lâu vậy, ông anh không làm “la phan” thì em… cứ đi đằng đầu”, tay xích lô nói vậy và dướn người đạp xe về phía biển.

…”Không thể chở chạy suốt đêm để tìm địa chỉ vầy đâu ông anh, em còn phải về với vợ con chứ!”. Lúc ấy đã hơn ba giờ sáng! Tiếng tay xích lô lại chen tới theo gió biển: “Vả lại, nghe kể số tiền mất, thông cảm em nói thiệt: Tiền công chở cộng với các khoản từ tối đến giờ, chiếc máy ảnh ông anh đang mang không thể trả hết đâu”. Ai đêm cũng phải về với vợ con. Hắn nói có lý. ở thành phố này sao ai nói nghe đều có lý hết trơn! Thôi thì đành phải hỏi địa chỉ và năn nỉ “các” lại hắn chiếc máy ảnh, chứ còn biết làm sao nơi phố xa thành lạ vào đêm hôm khuya khoắt như vầy. Nhờ trời, địa chỉ hắn cho đừng là nơi ở dởm!

Còn lại một mình, để chờ sáng Hà lang thang xuống mép biển. Lác đác đó đây dăm người trên bãi cát làm những động tác thể dục sớm. Đã có người thể dục thì chắc khách sạn mở cửa rồi. Cũng may mà còn chìa khóa phòng, Hà vội quay về hướng khách sạn. Anh vừa đi vừa huôi hoai chân tay như người tắm biển, thể dục về sớm. Đi được dăm bước, nhìn vài người ra biển, anh chợt thấy mình không giống họ tí ti nào. Mặt mũi suốt một đêm không ngủ chắc bơ phờ đã đành, nhưng quần áo lại nghiêm chỉnh như… nhà báo! Về cái điệu này, bảo vệ khách sạn sẽ đặt dấu hỏi ngay. Hà bèn quay xuống lại mép biển. Có gì nữa để mà mất, anh cởi quần áo dằn giấu vào một hốc đá, chỉ còn mặc độc chiếc quần đùi cộc. Đoạn, Hà lao xuống mép biển nhúng người vào nước cho ướt rồi chạy theo mấy động tác thể dục về. Sự mát lạnh của nước biển đã làm anh tỉnh cơn buồn ngủ. Chẳng biết đêm rồi có ai trong đoàn hay khách sạn khám phá ra sự anh “tại ngoại” để thâm nhập thực tế không? Phải về xem thử tình hình vắng mặt của mình đêm rồi ra sao.

Còn khá sớm, khách sạn vẫn chưa mở cửa. Phía trước vài hàng cà phê, điểm tâm lục tục dọn bày hàng. Bây giờ Hà mới thấy đói. Từ bữa cơm vội vàng trưa qua đến giờ, mải lo thực tế anh có kịp ăn gì đâu. Hà tập thể dục tại chỗ bên cạnh nơi bán bún riêu. Thấy anh chỉ độc có cái quần cộc chạy tại chỗ nhưng mỗi lúc một gần thúng bún quá, chị chủ quán gắt bẳn: “Xin bố chạy xa ra giùm, sáng con chưa mở hàng!” Hà chợt nhớ vội khuỳnh tay cong chân chạy đi chỗ khác… Mãi rồi cổng khách sạn anh ở cũng mở. Chờ mọi người ra một lúc, Hà làm như vừa mới đi quên gì nơi phòng, chạy về. Chẳng ai trong đoàn biết vừa rồi Hà đi “thực tế” suốt đêm cả. Anh mở cửa phòng mình. Chỉ còn đúng mỗi mười nghìn sót trong chiếc cặp! Thôi thì cũng đủ tiền cho một bữa điểm tâm. Hà đánh thức mọi người đoàn mình dậy tắm biển sớm để còn kịp dự Đại hội bạn. Và rồi anh lại vừa tập theo kiểu thể dục vừa chạy đi.

Nơi Hà giấu quần áo bây giờ đầy người, riêng bộ đồ thì… chẳng thấy đâu! Anh bỗng hồn xiêu phách lạc khi chợt nhớ ra rằng trong túi quần còn cái ví, tuy chẳng tiền bạc gì song lại có nhiều giấy tờ rất quan trọng. Hà thất thểu đi tìm suốt dọc bãi tắm. Cũng may, có thằng bé biết chuyện nên xúm tìm giùm anh. Cuối cùng, nó phát hiện ra có chiếc ví đang dập dờn trên mép nước. Đúng là ví của Hà, ai đó đã lẳng ra sóng biển! Không còn gì nên anh chỉ cho thằng bé có mười nghìn. Nó vòng tay cám ơn rối rít.

Nắng gay gắt khi mặt trời mỗi lúc một lên cao. Giờ này chắc đại hội Văn nghệ đã khai mạc lâu rồi! “Thật là đồ… khỉ gió!” Hà buột miệng vậy khi kiểm tra lại số giấy tờ ướt nước. Anh cũng không biết vừa rồi rủa ai hay là rủa chính mình!

“Cũng may là sợ lỉnh kỉnh mình không mượn theo luôn cái máy ghi âm” – Hà tự an ủi vậy rồi… “nhất thân nhất quởn” cầm cái ví ướt uể oải đi về như một người tắm muộn!

 

(Tạp chí Nhà văn)

 

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HỘI  NHÀ VĂN VIỆT NAM

MỤC LỤC TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HNVVN – 1

 

 

Thẻ: , , , ,